Blog

  • Tính toán nhu cầu thức ăn trong ngày cho gà nuôi hướng thịt

    Tính toán nhu cầu thức ăn trong ngày cho gà nuôi hướng thịt

     

    Việc tính toán nhu cầu ăn trong ngày của gà rất quan trọng. Nhất là với những đàn gà lớn, số lượng đông đúc. Cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng, thực phẩm cho gà giúp gà tăng trưởng tốt, không bị thừa lại thức ăn cũ, tiết kiệm chi phí chăn nuôi, ước lượng được số lượng thức ăn cần sản xuất trong ngày nếu trang trại tự ép cám tổng hợp từ đó tối ưu chi phí đầu tư và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
    Dưới đây là nhu cầu ăn trong ngày của một chú khách hàng mua máy ép cám viên chia sẻ. Trang trại của chú ở Ba Vì, Hà Nội hiện đang rất thành công với tiêu chuẩn khẩu phần này. Mời bà con tham khảo.

    thuc-an-cho-ga

     

    1. Khẩu phần thức ăn gà con 0-6 tuần tuổi

    Gà con sinh trưởng nhanh, trao đổi chất mạnh, vì vậy, thức ăn cho gà con phải đầy đủ về số lượng. Các nguyên liệu đã sản xuất thức ăn phải tốt (ưu tiên số 1). Trong 3 tuần đầu, cho gà ăn tự do cả ngày lẫn đêm. Sau 3 tuần tuổi cho ăn hạn chế theo khối lượng cơ thể gà ở các tuần tuổi (đối với gà trống 4-6 tuần tuổi cho ăn từ 44-54g thức ăn/ngày tương đương với khối lượng cơ thể 605-860g; gà mái cho ăn từ 40-50g thức ăn/ngày tương đương với khối lượng cơ thể 410-600g.

    ga-con

    2. Thức ăn cho gà giò 7- 20 tuần tuổi

    Đặc điểm gà ở giai đoạn này là tiếp tục tăng trưởng nhanh, nhưng tích luỹ mỡ nhiều (chóng béo), đối với gà hậu bị lại phải kìm hãm tăng khối lượng cơ thể và chống béo, để khi lên đẻ cho sản lượng trứng cao và ấp nở tốt. Vì vậy, phải hạn chế số lượng, kể cả chất lượng thức ăn. Số lượng thức ăn giảm còn khoảng 50-70% so với mức ăn tự do ban đầu. Còn protein và năng lượng thấp hơn gà đẻ. Gà trống cho ăn tăng dần từ 58-108g thức ăn/con/ngày, tương đương với khối lượng cơ thể từ 1-2,8kg, gà mái từ 54-105g thức ăn/con/ngày, tương đương với khối lượng cơ thể từ 0,7-2kg.

    thuc-an-cho-ga-con

    – Ưu điểm của cho ăn hạn chế là chống béo sớm, tạo ngoại hình thon, kéo dài thời kỳ đẻ trứng đến 2 tuần, tăng sản lượng trứng giống, đặc biệt là kéo dài thời kỳ đẻ đỉnh cao, tăng số gà con/mái…

    – Thực hiện nghiêm ngặt cho ăn hạn chế đối với gà hậu bị hướng thịt là yếu tố quyết định để đạt hiệu quả cao khi gà đi vào sản xuất con giống 1 ngày tuổi.

    nuoi-ga-thit

    3. Tiêu chuẩn khẩu phần cho gà đẻ 21- 64 tuần tuổi

    – Đẻ khởi động 21-24 tuần tuổi: Đặc điểm của giai đoạn này là gà vừa ăn vừa hạn chế xong nên số lượng thức ăn cho gà phải tăng từ từ. Nhưng chất lượng thức ăn như protein, năng lượng… lại cao hơn gà hậu bị và gà đẻ ở giai đoạn sau để đáp ứng cho gà con đang tăng trọng, phát triển và hoàn thiện chức năng sinh sản chuẩn bị cho giai đoạn đẻ cao.

    – Đẻ pha I từ 25-40 tuần tuổi: Giai đoạn này gà đẻ cao nhất, gà hầu như đã thành thục hoàn toàn, tăng trọng không đáng kể cho nên thức ăn phải đảm bảo cho sản xuất trứng cao. Số lượng thức ăn cho gà ở giai đoạn này là cao nhất, nhưng chất lượng có thấp hơn giai đoạn đẻ khởi động. Nhưng tính ra thì lượng và vật chất khô và dinh dưỡng của thức ăn cung cấp cho gà ở giai đoạn này là cao nhất do gà ăn lượng thức ăn trên dưới 160g/con/ngày.

    cho-ga-an-cam

    – Đẻ pha II từ 41-64 tuần tuổi: Giai đoạn này có thể kéo dài hoặc rút ngắn tùy theo giá cả thị trường. Đặc điểm của giai đoạn này là gà đẻ giảm dần, tích lũy mỡ bụng nhiều cho nên phải giảm cả số lượng và chất lượng thức ăn cung cấp cho gà. Thức ăn giảm dần từ 160g xuống 145g/con/ngày.

    + Thức ăn cho gà trống ở thời kỳ đạp mái thấp hơn so với gà mái cả lượng và chất. Hiện nay ở nước ta, áp dụng phương pháp cho ăn tách riêng trống mái với số lượng thức ăn cho gà trống 125-130g/con/ngày trong suốt thời kỳ sản xuất.

    + Giảm sinh sản thời kỳ đẻ trứng giống cần bổ sung vitamin A, D, E vào thức ăn định kỳ 3 ngày/lần (có thể ngâm thóc mầm cho gà ăn). Mùa nóng cho gà uống nước điện giải và vitamin C.

    ga-an-cam

    Để gà phát triển tốt, không bị tích mỡ cần phải lưu ý đến khẩu phần ăn trong từng ngày. Chúc bà con chăn nuôi thành công !
  • Top 5 Siêu Phẩm Máy Ép Cám Viên Hot Nhất Trên Thị Trường

    Top 5 Siêu Phẩm Máy Ép Cám Viên Hot Nhất Trên Thị Trường

    I. Lợi ích khi sử dụng máy ép cám viên 

    Khi sản xuất cám viên tại nhà giúp bà con tiết kiệm được thời gian công sức và cũng như đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm. Đảm bảo các loại cám viên tự mình làm ra không chất độc hại, không chất bảo quản, đảm bảo cung cấp nguồn thịt sạch tới người tiêu dùng.

    Bên cạnh đó, bà con sẽ tiết kiệm được tối đa chi phí khi mua thức ăn cho động vật nuôi. Bà con sẽ không còn phải quá phụ thuộc vào nguồn cám công nghiệp, không lo sợ cám tăng giá nữa. Bình thường những phụ phẩm trong nông nghiệp là khá nhiều tuy nhiên cần phải chế biến sơ qua thì động vật nuôi mới có thể ăn được. Máy ép cám viên có khả năng xay mềm nhuyễn và ép ra những viên cám dinh dưỡng cho vật nuôi.

    may-ep-cam-vien

    1.  Chủ động nguồn dinh dưỡng cho vật nuôi

    Không còn cảnh thấp thỏm khi cám tăng giá, bà con có thể tự ép cám viên ngay tại nhà bằng cách tận dụng các phụ loại phụ phẩm có sẵn tại địa phương để làm như:  bột cám; ngô hạt, rau xanh, thóc lúa, cá ốc… Cám viên tự làm sẽ giúp vật nuôi lớn nhanh mà không lo chứa chất phụ gia, hay kém chất lượng như khi mua trên thị trường.

    Đặc biệt, bà con có thể chủ động phối trộn tỉ lệ giữa các chất theo từng giai đoạn phát triển của vật nuôi.  Giúp gia súc – gia cầm phát triển đồng đều, khỏe mạnh và giữ vệ sinh chuồng trại sạch sẽ phòng trừ bệnh dịch.

    2. Năng suất cao tạo nguồn thức ăn phong phú

    Với 5 dòng máy ép bán chạy nhất trên thị trường hiện nay S150, S200, S220, S250, S270 cho năng suất từ 1 tạ đến 6 tạ chỉ trong 1 giờ đồng hồ, thích hợp với các nông hộ,  các cơ sở trang trại chăn nuôi lớn nhỏ.

    Điều này đã góp phần giảm từ số lượng nhân công 30-70% góp phần giảm gánh bớt gánh nặng một khoản chi phí, cũng như tiết kiệm thời gian chăn nuôi giúp bà con tăng gia sản suất, hướng đến mở rộng quy mô trang trại.

    ga-an-cam

    3. Thiết kế tiện lợi – vận hành dễ dàng

    – Kích thước viên cám tùy theo mặt sàng sử dụng, giúp điều chỉnh theo nhu cầu của vật nuôi. Phễu nạp khá lớn, giúp đưa nguyên liệu vào dễ dàng.

    – Cám được ép khô, chất lượng đảm bảo, có thể bảo quản để sử dụng dần.

    – Thiết kế nhỏ gọn với bánh xe giúp di chuyển dễ dàng, phù hợp lắp đặt mọi nơi.

    – Máy vận hành đơn giản, dễ sử dụng, dễ dàng vệ sinh sau khi sử dụng.

    s150-lam-cam

    4. Giá cả phải chăng 

    Là đơn vị trực tiếp sản xuất nên bà con mua máy tại công ty sẽ được mua máy với giá gốc niêm yết tại xưởng sản xuất

    5. Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật

    Ngoài yêu cầu về chất lượng, thì yếu tố về dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cũng rất được công ty 

    Bảo hành kỹ thuật tới 6 tháng cho bà con khi mua máy cùng đội ngũ kỹ thuật và hỗ trợ chăm sóc khách hàng sẵn sàng tư vấn giải đáp mọi thắc mắc của bà con trong quá trình mua và sử dụng máy. Điều này bà con sẽ chỉ bắt gặp khi mua tại các cơ sở uy tín.

    II. Top 5 Siêu phẩm máy ép cám viên

    1.Máy ép cám viên trục đứng S150 

    Máy ép cám viên trục đứng S150_ Sử dụng nguồn điện gia đình 220V

    Máy ép cám viên S150 giúp các hộ chăn nuôi tự sản xuất cám viên ngay tại nhà, giúp tiết kiệm chi phí do không phải mua cám công nghiệp. Bà con cũng  không cần lo lắng về nguồn cám có sạch không, cám có chứa phụ phẩm và chất bảo quản làm ảnh hưởng đến vật nuôi hay không. Vì bà con hoàn toàn là người làm chủ nguồn nguyên liệu cám. Máy sử dụng động cơ 3-3.5kw của Toàn Phát 100% lõi đồng có thể cho năng suất từ 100-150kg/1h phù hợp với các hộ chăn nuôi vừa nhỏ.

    Được tích hợp 3 chức năng trong 1 : Nghiền- Trộn- Ép. Nguồn điện sử dụng 220V  1pha. Nguyên liệu máy có thể ép bao gồm đa dạng các loại thức ăn sẵn trong gia đình hoặc địa phương như rau bèo, ngô nguyên hạt, cám, cua, cá, ….Trong quá trình ép, máy sẽ sinh nhiệt vì vậy viên cám cũng đã gần khô rồi. Bà con có thể cho vật nuôi sử dụng ngay hoặc hong qua để bảo quản, tích trữ cho vật nuôi ăn dần.

    s150

    Tổng Hợp 4 Loại Máy Ép Cám Viên Trục Đứng Sử Dụng Điện 3Pha

    2.Máy ép cám viên trục đứng S200

    Máy ép cám viên S200 là 1 trong những dòng máy chế biến thức ăn chăn nuôi được sản xuất bằng dây chuyền hiện đại, được thiết kế bằng đội ngũ kĩ sư nhiều năm kinh nghiệm của công ty Binh Minh. Máy có chức năng ép được các nguyên liệu như cua, cá, ốc nhỏ hay nhiều nguyên liệu khác thành những viên cám có gí trị dinh dưỡng cao. Sử dụng máy ép cám viên bà con có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ, giảm chi phí thức ăn chăn nuôi, thu về lợi nhuận cao hơn. Máy sử dụng động cơ 4-5,5kw 3 pha của Việt Hung 100% lõi đồng.

    Nếu không có điện 3 pha bà con có thể sử dụng đầu nổ D8 trở lên để thay thế. Máy cho năng suất cao lên đến 150-250kg/1h. Có đến 3 mặt sang, 3 ly, 4 ly và 5 ly. Bà con có thể sử dụng 1 trong 3 loại mặt sàng này để lắp vào máy làm sao cho phù hợp nhất với vật nuôi của mình. Về cơ bản máy có nguyên lý hoạt động giống máy s150 nhưng máy S200 cho năng suất cao hơn. Phiên bản máy cám viên S150 thì phù hợp với mọi gia đình do giá cả hợp lý,sử dụng nguồn điện dân dụng gia đình 220V.

    s200

    3.Máy ép cám viên trục đứng S220

    Máy ép cám viên S220 phiên bản 2019 là dòng máy được kết hợp nhiều chức năng hiện đại và tiện dụng. Máy cũng được cải tiến từ dòng máy ép cám viên trục đứng S150 và nâng cấp lên để sử dụng nguồn điện 380V tức nguồn điện 3 pha giúp ổn định hoạt động của máy. Máy có chức năng chính nghiền ép các loại nguyên liệu mà không cần sơ chê như bột cám, thóc lúa, rau bèo, ngô hạt. cua, tép…nén thành viên cám tổng hợp chứa nhiều dinh dưỡng cho vật nuôi.

    Sử dụng động cơ 5,5kw của Việt Hung, máy có thể cho năng suất từ 250-400kg/1h. Tất cả các loại máy ép cám viên của công ty Bình Minh đều được sử dụng hộp cầu số ô tô đảm bảo không gây tiếng ốn lớn và có độ bền cao nên bà con có thể hoàn toàn yên tâm khi sử dụng

    may-s220-nguyen-lieu

    4.Máy ép cám viên trục đứng s250

    Máy ép cám viên S250 với công suất động cơ từ 7,5 đến 11kw sử dụng động cơ Việt Hung 100% lõi đồng có thể cho năng suất từ 350-450/1h phù hợp với bà con có nhu cầu kinh doanh hoặc các trang trại lớn. Ngoài tính năng ép các nguyên liệu như tôm, cua, cá, cám,.. thành thức ăn trong chăn nuôi máy còn có thể ép các loại phân như phân dê, phân trùn quế thành các loại phân bón hữu cơ cho cây trồng. Máy ép cám viên trục đứng S250 là công cụ hỗ trỡ đắc lực giúp bà con giảm bớt chi phí nhân công, tiết kiệm được thời gian. Hơn nữa lại tăng năng suất trong việc tự sản xuất thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm.

    Máy sử dụng nguồn điện 380V 3 pha hoặc đầu nổ D15 cho tốc độ ra cám nhanh. Các loại máy ép cám viên trục đứng nói chung và máy ép trục đứng s250 nói riêng đều được cấu tạo 1 trục đứng, 1 bộ lô ép, mặt sàng, dao cắt và  thân máy. Máy S250 khi vận hành thì quả lô quay quanh trục và mặt sàng đứng yên, quả lô xuống mặt sàng khi đó sẽ tạo ra 1 lực ép để cám đi qua các lỗ sàng và tạo thành viên cám. Máy được cải tiến từ máy ép S200 với những tính năng hiện đại ưu việt hơn.

    s250

    5.Máy ép cám viên trục đứng S270

    Máy ép cám viên S270 được thiết kế đơn giản với buồng làm việc tròn sâu, rộng rãi có đường kính lên tới 49cm có thể chứa lượng nguyên liệu rất lớn, bên trong được lắp mặt sàng và con lăn có nhiệm vụ trộn, nghiền rồi ép nguyên liệu xuống mặt sàng thành cám viên. Đặc biệt S270 được lắp động cơ 11-15kw của Việt Hung, chắn bảo vệ dây cu loa an toàn cho người sử dụng và có 4 bánh xe di chuyển dễ dàng đến bất kì đâu trong trang trại, thuận tiện cho công việc hằng ngày. Máy có thể cho năng suất rất lớn từ 500-600kg/1h. Để tăng thêm sự ổn định của máy, chúng tôi đa sử dụng thêm hộp cầu số ô tô giúp cho máy vận hành tốt hơn.

    s270

    Sử dụng máy ép cám viên giúp bà con có thể chế biến được các loại cám đủ dinh dưỡng, phù hợp với từng thời kì tăng trưởng của vật nuôi. Đồng thời không cần phụ thuộc vào nhà sản xuất cám, giúp tiết kiệm chi phí cho bà con. Giờ đây bà con có thể tự là nhà sản xuất cám cho chính vật nuôi của mình. Khi có máy ép cám viên, người dân có thể sử dụng các loại nguyên liệu sẵn có như : ngô, đậu tương, rau béo, ốc nhỏ,…thành những viên cám chắc mịn đầy đủ chất dinh dưỡng làm thức ăn chăn nuôi.

  • Đề Phòng – Khống Chế Bệnh Truyền Nhiễm Do Vi Khuẩn Ở Vịt ( Phần 1 )

    Đề Phòng – Khống Chế Bệnh Truyền Nhiễm Do Vi Khuẩn Ở Vịt ( Phần 1 )

    I. Bệnh tả gia cẩm

    1 Nguồn bệnh và đặc điểm lưu hành

    Nguồn bệnh của bệnh này là trực khuẩn Base tính đa sát. Bệnh này có tình phát tán hoặc tính địa phương, các loại gia cầm và chim muông hoang dã đều có thể bị lây nhiễm. Trong thủy cầm thì vịt, nhất là vịt nuôi lấy thịt rất dễ bị mắc, thường là quá trình cấp tính. Vịt bệnh và vịt mang khuẩn là nguồn lây nhiễm chủ yếu của bệnh nay. Khi quản lý chăn nuôi đàn vịt không tốt, điều kiện môi trường kém và các nhân tố không tốt khác làm ảnh hưởng như bị bệnh ký sinh trùng, thiếu dinh dưỡng và thời tiết đột biến, sẽ làm cho sức đề kháng trong cơ thể vịt bị giảm sút, nhưng diều đó đều có thể thúc đẩy bệnh này phát sinh và lây lan. Sự lưu hành của bệnh không có tính mùa vụ rõ rệt nhưng trên lâm sàng thì vịt thường phát bệnh vào tháng 7 – tháng 9 là mùa viêm nhiệt

    vit-1

    2 Triệu chứng lâm sàng

    Tuổi vịt bị bệnh phấn lớn từ 1 tháng tuổi trở lên, căn cứ vào bệnh tình dài hay ngắn, trên lâm sàng chia bệnh làm 3 loại là bệnh tối cấp tình, bệnh cấp tính, bệnh mãn tính

    2.1 Bệnh tối cấp tính

    Loại bệnh này chủ yếu phát sinh ở giai đoạn sớm nhất khi mới bùng phát bênh, vịt thường không có triệu chứng nào mà đã đột nhiên tử vong. Thường thấy là vịt đang chăn thả đột nhiên ngã xuống đất rồi nhanh chóng tử vong, buổi tối ngày hôm trước biểu hiện còn rất khỏe mạnh, nhưng sáng sớm hôm sau đã chết trong chuồng vịt, hoặc tử vong trong vận chuyển. Loại phát bệnh thường là vịt khỏe mạnh hoặc đang đẻ nhiều

    2.2 Bệnh cấp tính

    Vịt mắc bệnh biểu hiện tinh thân uể oải, không muốn xuống nước bơi lội, hành động chậm chạp, thường đi tụt lại đăng sau đàn, hoặc không muốn đi, lông rối xù, dễ bị nước làm ướt lông, thân nhiệt cao, kém ăn hoặc không ăn, miệng khát, mắt nửa nhắm hoặc nhắm hoàn toàn, rụt đầu cong cổ, đuôi cánh xệ xuống, có lúc há miệng vươn cổ, hít thở khó khăn, thường lắc đầu, như muốn dịch nhờn mắc trong cổ họng bật ra ngoài, cho nên người dân quen gọi là dịch bệnh lắc đầu, vịt bệnh thường đi phân lỏng nặng, thải ra phân loãng có màu xanh nhạt hoặc màu trắng xám, có lúc trong phân còn lẫn máu, thường có mùi hôi tanh, mỏ và màng chân bị tím tái rõ rệt, thậm chí bị tê liệt, không thể đi lại được. Thông thường khi xuất hiện các triệu chứng trên trong vòng từ 1- 2 ngày là vịt sẽ chết

    nuoi-vit-an-toan

    2.3 Loại mãn tính

    Khi bệnh tình kéo dài chuyển sang mãn tính. Vịt mắc bệnh này gầy còm, khớp xương cục bộ ở một bên hay ở cả 2 bên bị sưng tấy, sờ vào có cảm giác nóng đau, đi tập tễnh, hành động bị hạn chế. Cục bộ mọc gai, có thể thấy dịch thể màu đỏ thẫm, để thời gian lâu mổ ra có thể thấy vết hoại tử

    3 Sự biến đổi bệnh lý

    Vịt chết bệnh bị khô cứng hoàn toàn, phần mỏ và da bị tím tái hoặc trên da có một ít điểm xuất huyết. Khi giải phẫu kiểm tra có thể thấy màng tim có lẫn phiếm sơ bông, ở mở vành tim và màng trong ngoài tim có điểm xuất huyết, phổi ứ máu, phù nề, gan sưng to, có màu đỏ thẫm, ở trên bề mặt có nhiều điểm hoại tử màu trắng tro dạng đầu kim hoặc có điểm xuất huyết ở túi mật thường sưng to, đa số trường hợp mắc bệnh thì lá lách cũng sưng to, thường có rải rác hoặc dày đặc những điểm hoại tử màu trắng tro, ở màng nhầy đường ruột nhất là ở màng nhầy tá tràng có nhiều điểm sung huyết và xuất huyết, những chất chứa trong ruột có dịch thể màu đỏ nhạt và các mảnh vụn màng nhầy bong ra, tuyến tụy sưng to, có điểm xuất huyết, ở dạ dày tuyến, dạ dày cơ và màng nhầy toàn thân có đốm xuất huyết, dạ dày cơ và màng nhầy toàn thân có đỗm xuất huyết. vbijt chết do bệnh mãn tính có thể nhìn thấy khớp xương tăng dày, bên trong chứa dịch thể đặc quánh vẩn đục có màu đỏ thẫm, bệnh tình lâu ngày, cơ thể vịt thô nhám, ở gan phát sinh biến tính mỡ và có ổ hoại tử

    4 Biện pháp phòng chống

    a) Ở khu vực thường xuyên phát bệnh nên tiến hành tiêm chủng vacxin phòng bệnh tả cho đàn vịt. Đây là phương pháp hữu hiệu để đề phòng phát sinh dịch bệnh. Vacxin phòng tả gia cầm có thể chia làm 2 loại là vacxin chết và vacxin yếu. Ưu điểm của nó là sử dụng an toàn, sau khi tiêm chủng không có phản ứng xấu rõ rệt, khi tiêm phòng khẩn cấp loại vacxin này, có thể khiến cho dịch bệnh được khống chế kịp thời. Liều lượng sử dụng cho vịt 2 tháng tuổi trở lên, tiêm bắp mỗi lần 2ml. Ngoài ra, tăng cường quản lý chăn nuôi lúc chưa có dịch, chấp hành nghiêm chỉnh chế độ vệ sinh tiêu độc, loại bỏ vịt từ trong đàn vịt mắc bệnh

    b) Đối với đàn vịt mắc bệnh này, dùng loại thuốc dạng sulfanilamide và nhiều loại thuốc kháng khuẩn khác để điều trị , mang lại hiệu quả điều trị tốt. Thường có thể giảm thấp tỷ lệ phát bệnh và tỷ lệ chết bệnh. Nếu dùng loại thuốc sulfanilamide isoxazole trojn lẫn vào thức ăn theo tỷ lệ 0.4% – 0.5%, hoặc dùng phương thuốc tổng hợp sulfanilamide loại P-methoxy pirimidine, mỗi 1 kg thể trọng trộn vào 50-80mg để vịt uống, hoặc dùng loại thuốc cycloprosaxing trộn vào thức ăn theo tỷ lệ mỗi 1 kg thức ăn cho thêm vào 100mg thuốc. Trong những loại thuốc nói trên, chọn lấy 1 loại, dùng liên tục trong 5-7 ngày

    vit-bi-benh

    II. Dịch bệnh trực khuẩn Rymoso ở vịt

    Bệnh trực khuẩn Rymoso ở vịt còn được gọi là bệnh trực khuẩn base gây dịch bệnh ở vịt. Là một loại bệnh truyền nhiễm do tiếp xúc với trực khuẩn Rymoso ở vịt gây nên. Triệu chứng chủ yếu của bệnh là viêm màng tim, viêm túi khí, viêm chung quanh gan và viêm màng não, có chứng bại huyết cấp tính hay mãn tính, là một trong những bệnh truyền nhiễm chủ yếu gây hại nghiêm trọng cho ngành nuôi vịt hiện nay

    1 Nguồn bệnh và đặc điểm lưu hành

    Nguyên nhân gây bệnh là do trực khuẩn rymose  và trực khuẩn nhỏ âm tính Clanse ở vịt, không có nha bào không thể vận động. Thân khuẩn ngoài có dạng hình que hoặc có dạng hình bầu dục hoặc tồn tại nhiều dạng cá thể độc lập. Bệnh này chủ yếu phát sinh ở vịt con từ 2-6 tuần tuổi, còn vịt con từ 8 tuần tuổi trở lên và 1 tuần tuổi trở xuống rất ít mắc bệnh, còn ngỗng phát bệnh chủ yếu từ 3-5 tuần tuổi, ngỗng nhỡ không bị nhiễm bệnh. Còn các loại gia cầm như gà tây, gà, chim cút, cũng từng có báo cáo bị phát bệnh . Tỷ lệ phát bệnh và tỷ lệ chết của bệnh này tương đối cao, thường dẫn đến hàng loạt vịt con phát bệnh tử vong hay sinh trưởng phát dục chậm

    Bệnh phát sinh quanh năm nhưng về mùa đông thường thấy nhiều hơn. Chủ yếu nhiễm bệnh qua đường hô hấp hoặc qua da, thức ăn, nước uống và môi trường xung quanh do vi khuẩn gây bệnh này làm ô nhiễm đều có thể lây lan dịch bệnh, đối với các yếu tố khác không tốt như mật độ chăn nuôi trong buồng úm vịt con quá lớn, không khí không lưu thông, ẩm ướt, môi trường vệ sinh kém, chăn nuôi kém hoặc dinh dưỡng trong thức ăn không đầy đủ, đều có thể dẫn đến việc phát sinh và lan truyền bệnh rất nhanh. Ngoài ra, virut cũng có thể thông qua trúng vịt mà lây lan vào

    2 Triệu chứng lâm sàng

    Thời kỳ ủ bệnh thường là từ 1-3 ngày, có khi hơn 1 tuần. Căn cứ vào bệnh tình, trên lâm sàng có thể chia ra làm loại cấp tính, Loại A cấp tính và loại mãn tính

    Loại cấp tính thường thấy ở vịt con từ 2-3 tuần tuổi, thời gian ủ bệnh từ 1-3 ngày, vịt mắc bệnh chủ yếu biểu hiện tinh thần sa sút, uể oải, rụt đầu xệ cánh, biếng ăn, rời khỏi đàn, hành động chậm chạp, thậm chí nằm xuống không dậy nổi. Vật phân tiết ở mắt mũi tăng nhiều hơn, thường làm cho lông xung quanh mí mắt dính liền lại, thậm chí rơi rụng ra, trong múi chảy ra dịch nhờn, chất phân tiết sau khi ngưng kết làm tắc lỗ múi, làm cho vịt bệnh hô hấp khó khăn. Triệu chứng thần kinh của vịt bệnh trước khi chết rất rõ ràng, lên cơn co cứng uốn ván, đầu cổ run rẩy hoặc lên cơn co rút. Cuối cùng co rúm rồi tử vong

    Vịt bệnh loại A cấp tính hoặc mãn tính, thấy nhiều ở vịt 4 tuần tuổi trở lên, nhất là ở vịt nuôi lấy thịt, bệnh tình có thể đạt tới 1 tuần hoặc 1 tuần trở lên. Vịt bệnh có biểu hiện kém ăn hoặc không ăn, đi lỏng, bài tiết ra phân loãng màu xanh vàng, đa phần thích nằm không muốn đứng dậy đi, thường có triệu chứng bệnh ở đường hô hấp, một số ít trường hợp bị viêm màng não, đầu cổ vẹo lệch, bỗng chốc hốt hoảng, có giật quay vòng hoặc ngã lùi ra sau, còn có một số ít vịt biij bệnh sưng khớp cổ chân, đi tập tềnh. Vịt bệnh thường gầy còm, sinh trưởng phát dục kém, có trường hợp vịt nuôi lấy thịt bị dị ứng viêm màng não

    nuoi-vit-tha-dan

    3 Sự biến đổi bệnh lý

    Sự biến đổi bệnh lý của vịt bệnh cấp tính thường là mất nước toàn thân, mỏ bị sung huyết, phổi bị ứ huyết và sưng to, gan lá lách đều sưng to

    Vịt bệnh loại A cấp tính hoặc loại mãn tính có thể thấy màng nhầy trên thân biểu hiện có chất thấm ra. Đa số trường hợp trên túi khí đều có màng xenlulo, trên bề mặt màng tim và màng tim có xenlulo thấm ra, gây viêm màng tim, một số ít màng tim còn bị tích nước, gan sưng to, trên bề mặt có nhiều màng xenlulo che phủ, gây nên viêm chung quanh gan, một số ít trường hợp bè mặt gan còn rải rác có các ổ hoại tử to bằng đầu kim, lá lách hơi sưng, trên bề mặt cũng có màng xenlulo. Vịt có ngày tuổi tương đối lớn thì lá lách sưng to, đa phần có dạng đốm đỏ xám, có dạng sưng khớp xương cổ chân, dịch trong khớp xương tăng lên, có dạng đặc quánh màu trắng sữa. Có trường hợp vịt mắc bệnh xuất hiện triệu chứng thần kinh, màng não bị sung huyết, phù nề và có điểm nhỏ xuất huyết

    4 Biện pháp phòng chống

    a) Tiêm vacxxin phòng dịch là biện pháp dự phòng hữu hiệu bệnh trực khuẩn Rymose gây nên dịch bệnh ở vịt. Vacxin phòng dịch có mấy loại như vacxin chết oil emulsion, vacxin chết keo alumine và vacxin khuẩn yếu. Khi ứng dụng vacxin phòng dịch, phải phân ly giám định loại huyết thanh gốc khuẩn lưu hành ở trại này, chọn dùng vacxin phòng dịch của gốc khuẩn cùng loại hoặc loại vacxin chết đa giá trị do kháng nguyên đa giá trị hợp thanh, để đảm bảo được hiệu quả miễn dịch

    Tiêm chủng phòng dịch lần đầu thông thường tiến hành ở vịt khoảng 10 ngày tuổi, sau 2-3 tuần tiến hành tiêm chủng phòng dịch lần thứ 2. Tiêm chủng phòng dịch lần đầu cùng vacxin chết chất nước, còn tiêm chủng phòng dịch lần thứ 2 dùng vacxin chết chất nước hoặc vacxin chết oil emulsion. Do bệnh này thường lây nhiễm hỗn hợp với trực khuẩn đại tràng, khi sử dụng có thể lựa chọn 2 loại vacxin liên hợp phòng ngừa trực khuẩn Rymose và trực khuẩn đại tràng. Ngoài ra, sử dụng thuốc dự phòng trong khu vực lưu hành bệnh cũng là một biện pháp quan trọng để khống chế bệnh phát sinh

    b) Đối với đàn vịt phát bệnh, trước hết phải tiến hành cải thiện môi trường chăn nuôi. Kịp thời dọn dẹp phân và thay đổi có lót chuồng, chú ý tình trạng thông gió cho chuồng vịt, kịp thời điều chỉnh mật độ chăn nuôi. Đồng thời, chọn dùng loại thuốc kháng khuẩn nhậy bén với bệnh để điều trị, thường dùng các kháng sinh như thuốc kháng sinh mạnh.

    III. Bệnh tụ cầu khuẩn ở vịt

    1 Nguồn bệnh và đặc điểm lưu hành

    Nguyên nhân gây bệnh là do tụ cầu khuẩn màu vàng kim, chuẩn dương tính geranse. Loại bệnh này có thể phát bệnh quanh năm, vi khuẩn gây bệnh tồn tại rộng rãi quanh chuồng vịt hoặc trong thức ăn, nước uống và phân vịt cũng như bề mặt thân vịt và bề mặt vỏ trứng đều có thể phân ly ra được loại virut này

    Con đường lây truyền loại bệnh này chủ yếu là thông qua vết thương nhiễm sang, cũng có thể lây nhiễm qua tiếp xúc trực tiếp và qua không khí, ngoài ra còn có thể lây nhiễm trứng giống khi đưa vào ấp bị nhiễm loại vi khuẩn này, gây nên phôi chết hoặc vịt con ốm yếu tàn phế

    Đối với các yếu tố xấu  như quản lý đàn vịt không tốt, chuồng vịt ẩm ướt, môi trường vệ sinh kém, thông gió không tốt, mật độ chăn nuôi lớn và thiếu dinh dưỡng,.. đều có thể thúc đầy bệnh phát sinh. Căn cứ vào quan sát lâm sàng, vịt con khoảng 1 tuần tuổi phát bệnh, phần lớn có liên quan đến cỏ lót chuồng. Do vịt con mấy ngày đầu mới nở, hoạt động ít, thường quỳ xuống nghỉ ngơi, nhất là da phần bụng và khớp xương cổ chân có cơ hội tiếp xúc với cỏ độn chuồng nhiều, nếu cỏ độn chuồng thô ráp hoặc ẩm ướt ô uế, da phần bụng và biểu bì khớp xương rất dễ bị tổn thương hoặc sây sát làm nhiễm bệnh, dẫn đến vịt mới nở bị viêm rốn, viêm khớp hoặc chứng bại huyết

    2 Triệu chứng lâm sàng

    Căn cứ biểu hiện trên lâm sàng có thể chia làm 3 loại bệnh : viêm rốn, viêm da và viêm khớp

    Điển hình là loại bệnh viêm rốn, thường phát sinh ở vịt con mới nở trong vòng 1 tuần, nhất là vịt con trong vòng 3 ngày tuổi, vịt con mắc bệnh cơ thể yếu, tinh thần uể oải, kém ăn hoặc không ăn, sợ lạnh, co cụm lại, co cổ, xệ cánh, mắt nửa nhắm nửa mở, không muốn hoạt động, thường phủ phục, chung quanh bụng phình to, bị viêm phần rốn, sưng tấy hoại tử, sau mấy ngày bị chứng bại huyết là chết

    Bệnh viêm da, thường thấy ở vịt từ 2-8 tuần tuổi, thấy nhiều ở vịt con nuôi lấy thịt, mắc bệnh thì ở phần da cục bộ bị chứng viêm do hoại tử hoặc sưng tấy viêm ở phần da bụng và viêm dưới da, phần da bị bệnh có màu tím lam. Vịt con trong vòng 2 tuần tuổi, thường bị nhiễm ở phần bụng thành chứng bại huyết cấp tính mà tử vong. Vịt bệnh có số ngày tuổi tương đối lớn, bệnh tình tương đối dài thì dưới da thường bị mưng mủ, gây nên nhiễm bệnh toàn thân, không ăn uống rồi suy kiệt mà chết

    Bệnh viêm khớp, đa phần thấy ở vịt nhỏ 1-2 tuần tuổi, thỉnh thoảng cũng thấy vịt nhỡ và vịt trưởng thành. Vịt bệnh bị sưng tấy do viêm ngón chân, thường thấy ở khớp xương ngón chân chung quanh khớp cổ chân hoặc phần da cục bộ mưng đỏ. Bệnh tình tương đối kéo dài thì cục bộ bị biến mèm, chân bị bệnh đi tập tễnh không thể tiếp đất, hành động rất khó khăn, có con nằm quỳ xuống không muốn đi, tiếp xúc với phần sưng tấy có cảm giác gợn sóng và nóng đau, vịt con bị bệnh thường biếng ăn dần dần gầy còm, suy kiệt mà chết. Bệnh tình vịt con từ 3-7 ngày, bệnh tình vịt nhỡ và vịt trưởng thành có thể đạt tới 10-15 ngày, thậm chí còn dài hơn

    vit-an-cam

    3 Sự biến đổi bệnh lý

    Vịt con chết do viêm rốn, phần bụng phình to, màu sắc tím tái, da tương đối mỏng, phần rốn sưng tấy, lỗ rốn vỡ loét, túi lòng đỏ trứng phù nề, lòng đỏ loãng, hấp thu không tốt

    Vịt chết do bệnh viêm da, ở da bụng nhìn bên ngoài có màu tím đen hay màu nâu, dưới da có dịch thấm do xuất huyết, sự biến hóa bệnh lý da thường rụng lông, có khi vỡ loét, xuất hiện hoại tử

    Vịt chết do viêm khớp thì khớp bị sưng tấy. Trong túi khớp xương có dịch nhầy tiết ra hoặc tích mủ, túi khớp xương của vịt nhỡ và vịt trưởng thành có bệnh tình tương đối dài thường có chất hoại tử màu vàng trắng giống pho mát

    4 Biện pháp phòng chống

    a) Giữ vệ sinh sạch sẽ cỏ độn chuồng ở sân bãi đẻ của vịt giống, tránh phân vịt làm ô nhiễm trứng giống, đồng thời làm tốt công tác tiêu độc cho buồng ấp và trứng giống.

    b) Tăng cường quản lý chăn nuôi, làm tốt công tác vệ sinh môi trường chuồng vịt, loại bỏ mọi nhân tố không tốt làm ngoại thương vịt, tránh và giảm thiểu làm thương tổn đến da vịt

    c) Đối với đàn vịt bị bệnh, trên cơ sở cải thiện quản lý chăn nuôi, phải dùng erythromycin và flubennike là loại thuốc kháng khuẩn trộn vào nước uống hoặc thức ăn. Đối với vịt bị bệnh viêm khớp còn có thể sử dụng penicilin hoặc gentamycin để tiêm bắp, đều có kết quả điều trị tốt. Đối với vịt mắc bệnh do tổn thương da, phải kịp thời bôi tanh tuya i-ốt hoặc thuốc tím, để đề phòng nhiễm khuẩn

     

     

  • Đề Phòng – Khống Chế Dịch Bệnh Thường Gặp Ở Vịt

    Đề Phòng – Khống Chế Dịch Bệnh Thường Gặp Ở Vịt

    Phần 1 :  Bệnh truyền nhiễm do vi-rut

    1 Bệnh dịch đầu to

    1.1 Nguyễn nhân gây bệnh và đặc điểm lây lan

    Vi-rut dịch bệnh đầu to là một loại vi-rut gây mụn nước, vi-rut tồn tại trong các cơ quan nội tạng, máu, chất phân tiết và trong khoáng chất bài tiết, trong gan, lách, não, thực quản – khoang đẻ chứa lượng độc tó cao nhất

    vit-benh

    Sức đề kháng của loại vi-rut này đổi với môi trường bên ngoài không mạnh, ở dưới nhiệt độ 56 độ C trong vòng 10 phút là bị giết chết, nếu giữ nhiệt độ đến 80 độ C thì qua 5 phút là đã có thể tử vong, còn trong điều kiện nhiệt độ trong nhà, sức lây truyền của nó có thể duy trì trong 30 ngày, nhưng sức đề kháng đối với nhiệt độ thấp ở 20 độ C qua một năm vẫn có thể khiến vịt bị lây nhiễm bệnh

    Bệnh dịch đầu to đối với các giống vịt, năm tuổi và giới tính của vịt đều dễ bị lây nhiễm. Nguồn truyền nhiễm của bệnh này chủ yếu là từ vịt ốm và vịt nhiễm vi-rut tiềm ẩn, cũng như vịt mang vi-rut khỏi bệnh chưa lâu. Nhiễm tự nhiên, chủ yếu là thấy ở vịt trưởng thanh, nhất là vịt đẻ. Còn vịt con trong vòng 20 ngày tuổi rất ít mắc loại bệnh này. Vịt trời cũng có thể mắc bệnh, nhưng do sức đề kháng của nó tốt hơn vịt nhà. Vì vậy tỉ lệ phát bệnh và tỉ lệ chết, thấp hơn vịt nhà. Ngỗng khi tiếp xúc với vịt cùng bệnh, cũng có thể bị lây nhiễm, thậm chí còn có thể lây lan rất nhanh, nên phải hết sức coi trọng việc này

    1.2 Triệu chứng lâm sàng

    Vịt bệnh có biểu hiện tinh thần sa sút, thân nhiệt tăng cao, rụt cổ, xệ cánh, lông rối xù, đầu bị sưng to, lông chung quanh mí mắt bị ướt hoặc có chất phân tiết dạng mủ làm dính mí mắt, thậm chí ở khóe mắt có nốt loét nhỏ xuất huyết. Ngoài ra, vịt bệnh thường thấy thiếu máu, hô hấp khó khăn, tiếng kêu khàn khàn, từ khoang mũi chảy ra dịch loãng hoặc đặc quánh, đồng thời vịt bệnh phân đi lỏng, ỉa ra chất phân loãng màu trắng tro hoặc màu xanh, lông xung quanh hậu ,ôn bị nhiễm bẩn và vón cục, niêm mạc lộn ra ngoài, quá trình ủ bệnh thường là từ 2-5 ngày, còn bệnh đã chuyển sang mãn tính có thể kéo dài trên một tuần, tỷ lệ tử vong có thể đạt đến trên 90%

    vit-bi-benh

    1.3 Diễn biến bệnh lý

    Bệnh biểu hiện điển hình mắt thường có thể nhìn thấy, là bệnh bại huyết cấp tính. Da trên bề mặt cơ thể vịt chết bệnh có nhiều đốm xuất huyết rải rác, các mô dưới da phát sinh phù nề do niêm ở mức độ khác nhau. Loại bệnh có phần đầu cổ sưng to, các mô dưới da có loại keo kết đông màu vàng nhạt thấm ướt. Niêm mạc thực quản thường thấy màng giả màu vàng tro xếp hàng dọc hoặc có điểm đóm xuất huyết nhỏ rải rác, màng giả dễ bị bong tróc, sau khi bong vẩy để lộ ra vết đốm mụn loét không đồng đều. Toàn bộ đường ruột phát sinh chứng viêm catarrhal cấp tính, ở ruột thừa và trực tràng xuất huyết, ở bề mặt niêm mạc thường có vẩy hoạt tử màu vàng xanh hoặc màu vàng xám, niêm khoang đẻ thường bị phù nề. Có khi ở chỗ tiếp giáp giữa dạ dày tuyến với phần phồng to của thực quản hoặc chỗ giao nhau với dạ dày cơ bị sưng huyết hoặc xuất huyết, ở gan, lách thời kỳ đầu có đốm xuất huyết, thời kỳ cuối xuất hiện các ổ hoại tử có màu vàng xám với cỡ to nhỏ khác nhau, thông thường ở giữa ổ hoại tử có điểm nhỏ xuất huyết. Túi mật dầy mật, có khi nhìn thấy xuất hiện các vết loét nhỏ. Buồng trứng của vịt đẻ bị sưng huyết, xuất huyết hoặc cả buồng trứng biến thành màu đỏ thẫm

    1.4 Biện pháp phòng chống

    a) Định kì tiêm chủng vacxin phòng dịch bệnh to đầu cho đàn vịt, vịt con 20 ngày tuổi tiêm chủng lần đầu, sau 2 tháng tiêm chủng lần 2

    ttxvn_tiemphongcumgiac

    b) Kiểm dịch nghiêm ngặt, không nhập vịt nhỡ từ khu có dịch về làm vịt giống, để loại bỏ và giảm thiểu nguồn truyền nhiễm bệnh

    c) Khi đàn vịt phát sinh dịch bệnh to đầu, phải lập tức dùng ngay chăn thả, cách ly chăn nuôi, đào thải vịt bệnh và sử dụng biện pháp tiêu độc nghiêm ngặt. Đồng thời tiêm phòng khẩn cấp vacxin phòng dịch bệnh đầu to, thực hiện tiêm 1 con thay một kim tiêm để tránh bị lây chéo

    2 Viêm gan do virut ở vịt con

    Viêm gan do virut ở vịt con gọi tắt là viêm gan vịt con, là một loại bệnh truyền nhiễm do tiếp xúc cấp tính. Biểu hiện lâm sàng là cơn co cứng uốn ván, chủ yếu biến đổi bệnh lý là gan sưng to và có đốm xuất huyết. Loại bệnh này có đặc điểm là phát bệnh gấp, lây lan nhanh, bệnh tình ngắn, có tỷ lệ chết cao, thường gây tổn thất kinh tế to lớn cho các trại chăn nuôi vịt, cũng là một loại bệnh truyền nhiễm quan trọng

    2.1 Nguồn bệnh và đặc điểm lưu hành

    Nguồn bệnh là virut viêm gan ở vịt, thuộc hệ virut tiểu RNA. Virut này có 3 loại huyết thanh, là loại DHVI, DHV II, DHV III. Virut thuộc 3 loại này có sự khác biệt rõ rệt trên huyết thanh, giữa các loại không có tính miễn dịch chiếu nhau. Bệnh này do vi-rut loại DHV I gây nên

    Sức đề kháng của vi-rut đối với môi trường bên ngoài rất mjanh, Vi-rut lây nhiễm trong phòng nuôi vịt có thể sống trong 10 tuần, virut trong phân vịt ở điều kiện râm ẩm, có thể sống từ 37 ngày trở lên. Dịch phôi chứa virut bảo quản trong tủ lạnh 2-4 độ C, sau 700 ngày vẫn sống

    Vi-rut có sức đề kháng tương đối mạnh đối với clorofom, ether, trypsin và thuốc tiêu độc thông thường, gia nhiệt tới 56 độ C trong 60 phút vẫn có thể sống, trong dung dịch formal dehyde 0,1% vẫn có thể sống trong 8 giờ

    Bệnh viêm gan do vi-rut chủ yếu phát sinh ở vịt con từ 3 tuần tuổi trở xuống, đối với vịt đẻ, vịt nuôi lấy thịt và vịt trời đầu xanh nhà nuôi đều có thể nhiễm bệnh, nhưng trên lâm sàng thì vịt con nuôi lấy thịt phát bệnh là tương đối thường thấy, còn vịt con từ 4-5 tuần tuổi rất ít bị bệnh này, điển hình của bệnh gây tử vong do phát tán, vijg con từ 5 tuần tuổi trở lên thì khó bị nhiễm bệnh

    Một năm 4 mùa đều có thể phát bệnh, thông thường về mùa đông xuân thường thấy nhiều hơn. Khi vệ sinh môi trường chuồng vịt kém, độ ẩm quá lớn, mật độ chăn nuôi quá cao, quản lý chăn nuôi không tốt và thiếu vitamin, khoáng chất,…đều có thể làm bệnh bùng phát. Tỷ lệ phát bệnh có thể đạt 10%, nhưng tỷ lệ chết bệnh thì có sự chênh lệch lớn, tỷ lệ chết bệnh ở vịt con 1 tuần tuổi trở xuống khoảng 95% còn tỷ lệ chết bệnh ở vịt con 1-3 tuần tuổi không vượt quá 50%

    vit170506

    Bệnh có khả năng lây truyền rất nhanh trong đàn vịt con, nguồn lây nhiễm phần lớn là do vịt con nhập vào từ trại vịt bệnh và thủy cầm sống hoang dã phát bệnh truyền vào, con đường lây nhiễm chủ yếu là qua đường tiêu hóa và đường hô hấp. Thậm chí trong phân của vịt đã khỏi bệnh vẫn có thể tiếp tục thải độc từ 1-2 tháng, vì vậy trong chất phân tiết và vật tiết cũng được xem là nguồn truyền nhiễm của bệnh này

    2.2 Triệu chừng lâm sàng

    Thời kì ủ bệnh tương đối ngắn, thông thường từ 1-2 ngày, lây nhiễm nhân tạo khoảng 24 giờ, còn vịt con phần lớn là đột nhiên phát bệnh. Thời kì đầu phát bệnh, tinh thần vịt con uể oải, rụt cổ, xệ cánh, động tác theo đàn chậm chạp hoặc rời khỏi đàn, đứng ngay ra, mắt nửa nhắm, thường quỳ xuống, ngáp ngủ, không ăn, vịt bệnh xuất hiện viêm màng kết mạc mắt. Phát bệnh sau vài giờ, thì xuất hiện triệu chứng thân kinh, bị co rút toàn thân, vận động mất cân bằng, thân vịt đổ về một phí, đầu ngửa về phía sau, lên cơn co cứng uốn vãn, 2 chân co giật. Thông thường sau khi xuất hiện triệu chứng thần kinh trong vòng vài giờ là chết, một số ít vịt bệnh trước khi chết phân đi ra loãng có màu vàng nhạt hoặc màu xanh. Vịt bệnh nhiễm nhân tạo thường chết sau khi tiêm chủng ngày thứ 4

    2.3 Sự biến đổi bệnh lý

    Sự biến đổi bệnh lý mang tính đặc trưng ở gan. Gan sưng to, bề mặt có điểm xuất huyết. Màu sắc của gan tùy theo số ngày tuổi mà khác nhau, thông thường thì 1 tuần tuổi trở xuống gan có màu vàng nâu hoặc màu vàng nhạt, từ 10 ngày tuổi trở lên có màu đỏ nhạt. Một số ít trường hợp điển hình bệnh thì gan có ổ hoại tử. túi mật mở rộng, nước mật tràn đầy lá lách có lúc hơi bị sưng, nhìn bề ngoài có dạng loang lổ. Đa số thận vịt ốm bị sung huyết và sưng tấy. Mạch máu não bị sung huyết dạng cành cây, não phù nề nhẹ. Niêm mạc ruột bị sung huyết, có khi thấy tuyến tụy có điểm nhỏ hoạt tử, khi vịt con có số ngày tuổi càng cao thì thường bị viêm màng tim và viêm túi khí. Còn các cơ quan nội tạng khác chưa thấy sự biến đổi bệnh lý nào rỗ rệt.

    2.4 Biện pháp phòng chống

    a) Hiện nay bệnh chưa có biện pháp điều trị hữu hiệu. Khi đàn vịt con phát sinh bệnh gan do virut, thì dùng biện pháp tự phòng khẩn cấp,tiêm huyết thanh miễn dịch viêm gan ở vịt con cao, hoặc kháng thể lòng đỏ trứng miễn dịch viêm gan ở vịt con, mỗi con tiêm bắp 0.5-1 ml, có thể khống chế hữu hiệu sự lây lan và giảm tỷ lệ tử vong của bệnh trong đàn vịt

    b) Ở khu vực lây lan bệnh viêm gan do virut ở vịt, có thể dùng vacxin virut yếu để tiêm chủng cho vịt đẻ. Phương pháp là ở mỗi con vịt cái trước khi bắt đầu đẻ từ 2-4 tuần cho tiêm bắp 0.5ml dịch phôi chưa qua pha loãng, như vậy trong trứng của vịt mẹ đẻ ra đã chứa nhiều kháng thể, nên vịt con khi ấp nở ra đã được miễn dịch có thể duy trì từ 3-4 tuần, đây là một phương pháp hữu hiệu thao tác đơn giản lại an toàn để đề phòng bệnh

    vit-1

    c) Chế độ kiểm định và tiêu độc nghiêm ngặt cũng là biện pháp tích cực để đề phòng bệnh

    3 Bệnh cúm gia cầm

    Bệnh cúm gia cầm có tính gây bệnh cao là một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính gây chết toàn thân do virut cúm loại A gây cho vịt và gia cầm khác. Vịt con và vịt nhỡ, vịt trưởng thành chưa miễn dịch có tỷ lệ phát bệnh rất lớn đạt 100%, tỷ lệ chết bệnh có thể đạt 80% trở lên. Đây cũng là một loại bệnh truyền nhiễm quan trọng và gây suy hại cho việc sản xuất chăn nuôi vịt, cũng như gây nên sự tổn thất lớn về kinh tế. Virut có thể làm ngưng kết tế bào hồng cầu của gà và một số động vật có vú nào đó, có thể sinh trưởng trong phôi gà, tiêm chủng vào khoang túi niệu, có thể khiến phôi gà tử vong, gây sung huyết và xuất huyết ở da và bắp thịt phôi gà. Virut cúm loại A do 2 loại glucoprotein khác nhau là chất đông máu và neuraminase hợp thành, có thể chia thành nhiều loại hạng hai khác nhau, giữa các loại hạng hai đó không có sức miễn dịch giao hoán nhau

    3.1 Nguồn bênh và đặc điểm lưu hành

    vit-bi-cum-gia-cam

    Gốc độc của virutcúm gia cầm hạng hai khác nhau đó có sức gây bệnh đối với gia cầm là khác nhau rất lớn. Trên thế giới từ những loại gia cầm và chim muông hoang dã đã phân ly ra được hàng ngàn gốc virut cúm gia cầm. Qua thực nghiệm phân loại có thể chia ra làm 3 loại lớn là loại không có tính gây bệnh, loại có tính gây bệnh thấp, loại có tính gây bệnh cao. Trước kia cho rằng các loài thủy cầm như vịt, ngỗng,.. phần lớn thuộc về trạng thái mạnh khỏe mang virut không phát bệnh, nhưng hiện nay bệnh cúm lây bệnh cho thủy cầm chủ yếu là gốc virut có tính gây bệnh cao. Tính gây bệnh của nó rất mạnh, tỷ lệ phát bệnh và tỷ lệ chết bệnh đều tương đối cao. Virut cúm sống ở trong vật phân tiết khoang mũi và ở trong phân của gia cầm, do có sự bảo hộ của chất hữu cơ nên virut có sức đề kháng rất mạnh. Tính truyền nhiễm của virut trong phân ở 4 độ C có thể duy trì từ 30-35 ngày. Ở 20 độ C có thể sống trong 7 ngày khi ở trong lông vũ có thể sống đến 18 ngày, còn ở xương khô hoặc trong các mô có thể sống vài tuần, ở trong thịt và khung xương gia cầm đông lạnh có thể sống trong 10 tháng

    3.2 Triệu chứng lâm sàng

    Bệnh có thể phát sinh ở đàn vịt có chủng loại và ngày tuổi khác nhau, thời kỳ ủ bệnh từ vài giờ đến vài ngày, dài nhất có thể đạt tới 21 ngày. Vịt phát bệnh đột nhiên, thân nhiệt tăng cao, giảm ăn hoặc không ăn, rụt đầu, thần kinh uể oải, lông rối xù, ngủ mê man, đầu gục xuống bụng, phản ứng chậm chạp. Một số vịt xuất hiện triệu chứng thần kinh hoặc quay lắc đầu co rút hay thân người lệch sang 1 bên, đùi sau bị co rút howjc phần đầu cổ co giật, ngã xuống đất giãy dụa, phân loãng có màu trắng vàng hoặc xanh vàng. Đa số vịt bệnh xuất hiện chứng giác mạc vẩn đục, mắt mờ, có con bị sưng to đầu, phần má phù nề, một số vịt bệnh xuất hiện triệu chứng bệnh đường hô hấp. Còn số vịt đẻ sau khi bị bệnh thì tỷ lệ đẻ trứng giảm mạnh, thậm chí ngừng đẻ, cho dù có đẻ thì trứng nhỏ, trọng lượng trứng giảm nhẹ, có con còn đẻ trứng ra dị dạng. Đa số trước khi chết, mỏ và màng chân vịt có màu tím tái, có con còn tìm thấy xuất huyết ở dưới vảy chân

    3.3 Sự biến đổi bệnh lý

    Vịt chết bệnh thông thường thấy mỏ tím tái, có con đầu mặt cũng bị tím tái, một số phần đầu vịt bị sưng to, dưới da đầu xuất huyết, phù nề, con bị bệnh nặng thì ở phần má cũng bị phù nề. Ở kết mạc mắt và niêm mạc khoang mũi bị sung huyết, xuất huyết và phù nề, có con thì niêm mạc khí quản bị xuất huyết. Dưới da và mỡ ở toàn thân xuất huyết, gan thì sưng to và có rải rác điểm xuất huyết và ổ hoại tử, đối với loại vịt có bệnh tình dài thì gan bị cứng, túi mật sưng to, lá lách cũng bị sưng to, ứ máu, có 1 số điểm hoại tử, cơ tim biến chất, có hoại tử, mỡ vành tim và màng ngoài tim xuất huyết, niêm mạc dạ dày tuyến và màng chất sừng dạ dày tuyến với thực quản còn hình thành dải xuất huyết, niêm mạc ruột non cũng xuất huyết, có con còn xuất hiện ổ mụn loét xuất huyết, ở niêm mạc trực tràng và niêm mạc khoang đẻ cũng sung huyết, xuất huyết, có những con toàn bộ niêm mạc đường ruột xuất hiện nhiều điểm sung huyết và xuất huyết, tuyến tụy sưng to, xuất huyết, hoại tử, thận cũng sưng to, ở bề mặt cũng có sung huyết, xuất huyết, mạch máu não ở vịt chết bệnh có triệu chứng thần kinh bị sung huyết, có con thì ở mô não xuất hiện diện tích lớn bị hoại tử có màu vàng xám, ở niêm mạc khoang đẻ của vịt bị sung huyết và phù nề, trứng biến dạng, biến chất, màng trứng bị sung huyết xuất huyết, màng trứng còn có dạng màu tím nho

    kinh-nghiem-nuoi-vit-con

    3.4 Biện pháp phòng chống

    a) Đỗi với bệnh cúm gia cầm có tính gây bệnh cao phải chấn đoán ở thời kỳ đầu, hễ có tình hình dịch bệnh bùng phát hoặc phát hiện điển hình bệnh nghi ngờ, phải dựa theo quy định phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm của nhà nước, phải báo cáo tình hình dịch bệnh với chính quyền địa phương, tiến hành phong tỏa nghiêm ngặt, hoạch định vùng dịch, dập dịch bệnh ở mọi gia cầm, đồng thời đối với sân bãi có thể bị nhiêm ở trong khu dịch bệnh tiến hành tiêu độc triệt để và xử lí vô hại đến môi sinh như thiêu hủy và chôn sâu,.. để đề phòng dịch bệnh kéo dài và virut khuếch tán lây lan

    b) Tăng cường kiểm dịch : Vật kiểm dịch bao gồm gia cầm, chim cảnh, tinh dịch, sản phẩm gia cầm, chế phẩm sinh vật, … nhập khẩu. Đề phòng nghiêm ngặt virut cúm gia cầm có tính lây bệnh cao truyền vào. Đồng thời, tăng cường quản lý chăn nuôi đàn vịt, chú ý vệ sinh môi trường xung quanh, nâng cao sức đề kháng của cơ thể vịt. Đàn vịt chăn thả tránh tiếp xúc với thủy cầm sống hoang dã, để tránh tình trạng lây lan lẫn nhau của bệnh

    c) Đối với đàn vịt khỏe, tiêm chủng vacxin chết đề phòng dịch cúm, tiêm chủng lần đầu từ 7-10 ngày tuổi, 3 tháng sau tiêm lại 1 lần, đối với vịt con tiêm bắp 0.5ml, còn đối với vịt nhỡ và vịt trưởng thành thì tiêm bắp 1ml

  • Phương Thức Nuôi Gà Ta

    Phương Thức Nuôi Gà Ta

    I. Chọn Giống

    _ Gà ta ở miền Bắc phổ biến có gà Ri, thịt thơm ngon, sản lượng trứng 80-100 quả/ năm, khối lượng trứng 42 – 43g. Gà trống trưởng thành nặng 1,8 – 2,5kg, mái nặng 1,3 – 1,8kg

    ga

    _ Gà Đông Tảo ( Khoái Châu – Hưng Yên ), loại gà này cho sản lượng trứng 55-60 quả/ năm, trứng nặng 55- 57g. Gà trưởng thành, con troosng nặng 3,5 – 4kg, con mái nặng 2,5 – 3kg.

    ga-dongtao

    _ Gà Hồ ( Bắc Ninh ), gà Mía ( Hà Tây ), gà Phù Lưu Tế ( Mỹ Đức – Hà Tây ) có năng suất tương tự như gà Đông Tảo. Gà Văn Phud chân chì ( Phú Thọ ) sản lượng trứng cao hơn gà Đông Tảo nhưng khả năng cho thịt kém hơn

    ga-ho-nho

    Đặc điểm chung của gà ta là có thịt thơm ngon lòng đỏ trứng to ( 34 – 35% khối lượng trứng ), khả năng chịu đứng cao nhưng năng suất thấp

    II. Úm Gà

    Chuẩn bị : Rửa sạch nền chuồng, sát trùng bằng for-mol hoặc Crezin. Dùng cót tre cao 45cm, đường kính 2-4m quây tròn. Chất độn trong cót bằng trấu, hoặc rơm khô cắt ngắn 5cm. Tốt nhất là dùng phoi bào rải dày khoảng 10-15cm

    Nguồn sưới cho gà có thể dùng bóng đèn 75-100w treo giữa quây cót, cách mặt nền khoảng 50cm. Trên bóng có chụp đèn bằng tôn hình nón 80cm để giữ nhiệt. Nguồn nhiệt sưởi có thể dùng bếp than, bếp trấu, nhưng phải có hệ thống để dẫn khí CO2 ra ngoài phòng.’ Nếu còn lạnh có thể phủ thêm bao tải trên cót

     

    III. Mật Độ Nuôi

    Vào mùa thu đông :

    _ Gà từ 1-10 ngày tuổi nhốt 40-50 con/m2

    _ Gà từ 11-30 ngày tuổi, nhốt 20-25 con/m2

    _ Gà từ 31 – 45 ngày tuổi, nhốt 15-20 con/m2

    ga-6

    _ Gà từ 46-60 ngày tuổi, nhốt 12-15 con/m2

    _ Gà giò nhốt 10-15 con/m2

    _ Gà sinh sản 4-5 con/m2

    Vào mùa hè nóng nực có thể giảm 10% số lượng gà

    IV. Nhiệt Độ Sưởi

    _ Gà từ 1-3 tuần, nhiệt đổ sưởi là 30-32 độ C

    _ Gà từ 3 – 6 tuấn, nhiệt độ sưởi là 25 – 28 độ C

    nhiet-do-chuong

    _ Gà từ 6-8 tuần nhiệt độ sưởi 20-22 độ C

    _ Sau 8 tuần nhiệt độ thích hợp là 18-20 độ C

    Ở giai đoạn này, nên thường xuyên quan sát đàn gà, nếu gà tụm lại xung quanh nguồn nhiệt, kêu chiêm chiếp không ăn là thiếu nhiết, nếu gà tản ra xa nguồn nhiệt, nằm bẹp, há miệng thở là thừa nhiệt, nóng quá. Gà chụm lại một góc thì phải quan sát xem có gió lùa vào chuồng hay không. gà đi lại nhanh nhẹn, ăn uống bình thường, là nhiệt độ đã thích hợp. Điều chính nhiệt bằng cách giảm cường độ bóng điện hoặc nâng, hạ bóng điện lên xuống

    V. Độ Ẩm và Ánh Sáng

    Độ ẩm thích hợp là 60 – 65%. Nếu chất độn chuồng bị ướt thì phải thay ngay.

    Dùng bóng điện treo cao cách nên chuồng 2,5m với cường độ ánh sáng tùy theo độ tuổi gà : Tuổi 1-20 ngày cường độ điện 5w/m2, gà 21-40 ngày tuổi, cường độ điện 3w/m2, gà 41 – 66 ngày tuổi, cường độ điện 1,4w/m2. Thời gian chiếu sáng 1-2 tuần đầu chiếu 24/24 giờ, sau đó cứ mỗi tuần giảm 20-30 phút

    Nước ta thuộc miền nhiệt đới, về mùa hè, gà có thể tận dụng ánh sáng thiên nhiên. Mùa đông âm u, đêm dài ngày ngắn nên bổ sung thêm ánh sáng trong chuồng để gà đẻ sớm và đẻ rộ

    VI. Thức Ăn

    Lượng thức ăn một ngày đêm

    _ Gà 1-10 ngày tuooit, cho ăn 6-10g/con

    _ Gà 11-30 ngày tuổi, cho ăn 15-20g

    ga-5

    _ Gà 31-60 ngay tuổi, cho ăn 30 – 40g

    _ Gà giò 61 – 150 ngày, cho ăn 45 – 80g/con

    _ Gà sinh sản : gà mái 100g/con, gà trống 110g

    _ Số bữa ăn đối với gà con là 6 bữa/ ngày đêm , gà giò và gà mái sinh sản từ 2-3 bữa/ ngày đêm

    Gà ta thường nuôi thả hoặc bán chăn thả. Nếu vườn thả rộng, dồi dào thức ăn thì bớt lượng thức ăn tinh. Quan sát diều gà buổi chiều trước lúc vào chuồng để biết gà no hay đói, cần cho ăn thêm nhiều hay ít và chú ý công tác phòng bệnh

     

  • Bí quyết nuôi tôm sú nước ngọt thành công

    Bí quyết nuôi tôm sú nước ngọt thành công

    Kinh nghiệm thả tôm sú giống

    Trong nuôi tôm, ít người chú ý đến kỹ thuật kinh nghiệm thả tôm sú giống vì đơn giản họ nghĩ rằng thả tôm như thế nào cũng không ảnh hưởng đến sự sống của tôm. Thực tế không phải như vậy, kỹ thuật thả tôm rất quan trọng đến sự thích nghi và sức khỏe của tôm sau khi được chuyển từ môi trường này đến môi trường khác.

    nuoi-tom-su-trong-ao

    Cách 1: Các bọc tôm mới chuyển về được kỹ thuật kinh nghiệm thả tôm sú giống trên mặt ao trong khoảng 10-15 phút để cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bọc, sau đó mở bọc cho tôm bơi ra từ từ.

    Phương pháp này áp dụng cho trường hợp độ mặn của nước trong và ngoài bọc tôm chênh lệch nhau không quá 5 phần ngàn. Cần làm cầu gần mặt nước để có thể mở bọc thả tôm dễ dàng, tránh lội xuống làm đục nước ao dùng bạt HPDE lót hồ tôm

    Cách 2: Thường áp dụng cho trường hợp độ mặn của nước trong bọc tôm và độ mặn của nước ao chênh lệch quá 5 phần ngàn. Tôm mới chuyển về cần một thời gian thuần hóa ngay tại ao dùng bạt HPDE lót hồ tôm để tôm thích nghi dần với độ mặn của nước ao và các yếu tố môi trường khác.

    Kinh nghiệm thả tôm sú giống

    Cần chuẩn bị một số thau lớn dung tích khoảng 20 lít và máy sục khí. Đổ các bọc tôm vào thau, khoảng 10.000 con/thau và sục khí. Cho thêm nước ao vào thau từ từ để tôm thích nghi dần. Sau 10-15 phút nghiêng thau cho tôm bơi ra từ từ.

    Có thể ước lượng tỷ lệ sống của đàn tôm bằng cách dùng lưới vào diện tích 2-3 m vuông và sâu 1m đặt ngay trong ao dùng bạt HPDE lót hồ tôm, thả vào lưới 1.000 – 2.000 tôm bột, cho tôm ăn bình thường. Sau 3-5 ngày kéo lưới vèo lên đếm và xác định ỷ lệ tôm còn lại.

    ao-nuoi-tom-2

    Một số dấu hiệu cho thấy tôm khỏe và thích nghi với môi trường ao nuôi dùng bạt HDPE lót hồ tôm  là không có tôm chết khi thuần trong thau, tôm bơi lội linh hoạt, bám thành thau. Kinh nghiệm thả tôm sú giống. Tôm sau khi thả xuống ao thì bơi chìm xuống đáy ao, không bám theo mí nước, không nổi trên mặt nước.

    Một số lưu ý khi nuôi tôm sú nước ngọt

    Trên thực tế các trại nuôi tôm thẻ, tôm sú trong ao nước ngọt thường chỉ thành công được 2-3 vụ nuôi đầu tiên. Từ các vụ tiếp theo tôm thường gặp phải các vấn đề về dịch bệnh, tôm phát triển không đồng đều và dễ xảy ra hiện tượng tôm chết kéo dài trong suốt quá trình nuôi. Vậy nguyên nhân là do đâu ? Cách nuôi tôm sú thế nào mới đúng ?

    kinh-nghiem-nuoi-tom-su

    Đầu tiên bà con phải hiểu được bản chất của môi trường nước ngọt thường sẽ nghèo nàn chất dinh dưỡng và khoáng hơn môi trường nước mặn.

    Trong khi đó tôm lại rất cần có khoáng chất cho quá trình sinh trưởng và phát triển, tôm có thể hấp thụ tốt các khoáng chất thông qua thức ăn và môi trường nước ao nuôi. Thường trong vài vụ nuôi đầu tiên thì ao nước ngọt vẫn có được các chất khoáng trong đất để giải phòng ra môi trường, làm ổn định nồng độ muối khoáng trong nước. Tuy nhiên, một thời gian sau đó lượng khoáng này sẽ su giảm và khiến tôm gặp các vấn đề.

    Bởi vậy kinh nghiệm để nuôi thành công tôm nước mặn trong nước ngọt là cần bổ sung đầy đủ các loại khoáng chất cũng như chất dinh dưỡng cho tôm, kết hợp với việc thả tôm với mật độ hợp lý.

    Nhờ áp dụng tốt bí quyết này mà một số trang trại nuôi tôm tại Thái Lan đã thành công nuôi tôm sú nước ngọt trong suốt 14 năm liền.

    Cùng xem các bước họ thực hiện như thế nào nhé

    Chuẩn bị ao nuôi tôm

    Kết thúc mỗi vụ nuôi tôm, họ dùng máy bừa, máy cào để trải bùn ra toàn ao rồi tiến hành phơi nắng cho tới khi bề mặt ao khô hẳn (thường sẽ mất thời gian gần 1 tháng ). Sau đó dùng vôi bột để trải đều khắp ao để làm khoáng cho đất cũng như tăng độ kiềm và ổn định pH cho ao tôm.

    ao-nuoi-tom

    Xử lý nước nuôi ở ao chứa

    Bà con có thể dùng thuốc tím để hòa vào nguồn nước cấp , với cách này thì thuốc tím sẽ được trung hòa các loại thuốc bảo vệ thực vật có trong nguồn nước cấp. Sau đó nước được để trong 3 ngày cho trứng các loài động vật nở ra sau đó dùng các loại thuốc diệt giáp xác để sát trùng ao.

    Tiếp đó ao nuôi được cấp nước từ ao chứa thông qua nhiều lớp vải lọc để đảm bải nước hoàn toàn sạch và không có chứa các động vật trung gian mang mầm bệnh.

    ao-nuoi-tom-2

    Bón men vi sinh đã được ủ lên men, mở quạt nước chạy ao nuôi ngay từ đầu để thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh vật phù du ở trong ao. Trước khi thả tôm giống bà con cần bón ít nước ót vào ao với liều lượng 8000 lít /4000m3 của nước ao.

    Thả giống tôm

    Chọn các đơn vị cung cấp tôm giống chất lượng tốt đảm bảo tôm sạch bệnh trước khi thả nuôi. Kiểm tra các chỉ tiêu, các thông số của nước cũng như hệ thống ao nuôi rồi tiến hành thả tôm.

    so-tay-ky-thuat-nuoi-tom

    Quản lý việc chăm sóc tôm

    Sau khi thả tôm bà con cần bắt đầu cho tôm ăn và xác định liều lượng thức ăn cho tôm hợp lý.Mỗi cữ ăn của tôm cần có bổ sung khoáng và vitamin C để bổ sung cho tôm và cho ao. Nếu không tôm rất dễ bị mềm vỏ và chết dần trong quá trình nuôi tôm.

  • Kỹ Thuật Nuôi Gà Thịt Khoa Học, An Toàn Và Hiệu Quả ( Phần 2 )

    Kỹ Thuật Nuôi Gà Thịt Khoa Học, An Toàn Và Hiệu Quả ( Phần 2 )

    I. Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt

    1.Các chất dinh dưỡng cần thiết cho gà

    1.1 Năng lượng

    a) Carbonhydrate

    Carbonhydrate là thành phần chính trong các thức ăn có nguồn gốc thực vật. Các chất này sau khi được phân giải sẽ sản sinh ra năng lượng phục vụ cho các hoạt động sống của cơ thể. Cung cấp đủ lượng carbonhydrate cần thiết cho cơ thể sẽ làm giảm lượng protein tiêu hao, tránh tình trạng cơ thể phân giải protein để lấy năng lượng, đảm bảo sức sống và khả năng sinh sản ở gà. Tuy nhiên, cẩn lưu ý khả năng hấp thụ xơ thô ở gà là rất thấp. Do không có các enzym cần thiết, dạ dày không thể trực tiếp tiêu hóa xơ thô mà chỉ có thể phân giải một phần nhờ vào các vi sinh vật ở ruột thừa. Hàm lượng xơ thô trong thức ăn quá cao sẽ đẩy nhanh tốc độ thức ăn đi qua đường ruột, ảnh hương đến việc hấp thu các chất dinh dưỡng khác, tuy nhiên, lượng xơ quá thấp sẽ khiên dạ dày ít nhu động gây hiện tượng táo bón và cắn mổ lẫn nhau. Lượng xơ trong thức ăn dao động trong khoảng 2,5-5% là hợp lí

    dan-ga-3

    b) Chất béo

    Chất béo cung cấp các axit béo cho cơ thể mà cần thiết nhất trong số đó là axit linoleic. Đây là một axit béo không no có trong hầu hết các loại dầu thực vật. Axit linoleic được xếp vào nhóm các axit béo thiết yếu, không thể tự tổng hợp mà chỉ có thể được đưa vào cơ thể qua nguồn thức ăn. Axit linoleic không được cung cấp đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa mỡ phốt-pho, các cấu trúc màng do đó mà phát triển bất thường, thay đổi tính thấm làm cho da và mao mạch bị tổn thương, khiến gà con dễ mắc chứng gan nhiễm mỡ cũng như các bệnh về đường hô hấp không cao. Thức ăn có thành phần chính là ngô thường chứa lượng axit linoleic nhiều hơn các loại có thành phần chính là thóc, cao lương, lúa mạch

    c) Protein

    Ở gà, năng lượng là yếu tố hết sức cần thiết để suy trì quá trình trao đổi chất của cơ thể và phục vụ cho sản xuất. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến như cầu về năng lượng, các yếu tố bên ngoài, các yếu tố bên trong. Muốn tính lượng thức ăn đầu vào hàng ngày của gà là bao nhiêu cần phải xem xét giá trị năng lượng của chúng. Năng lượng chứa trong thức ăn chăn nuôi phải có giá trị thích hợp và phải tỷ lệ với các chất dinh dưỡng khác 1 cách hợp lý để đảm bảo sự cân bằng giữa năng lượng và các chất dinh dưỡng đấu vào, làm tăng tỷ lệ hấp thu thức ăn cũng như nâng cao hiệu quả chăn nuôi

    dan-ga-4

    1.2 Protein

    a) Các loại axit amin

    Protein được cấu thành từ hơn 20 loại axit amin khác nhau, bao gồm các axit amin thiết yếu ( là axit amin mà cơ thể không thể tự tổng hợp được hoặc có thể tổng hợp được nhưng với hàm lượng nhỏ hơn rất nhiều so với nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, phải được đưa từ ngoài vào qua thức ăn và các axit amin không thiết yếu

    b) Hiệu quả sử dụng axit amin

    Hàm lượng axit amin thường được biếu thị bởi tỷ lệ phần trăm của lượng axit amin hoặc protein chứa trong thức ăn. các axit amin trong thức ăn hoặc protein chứa trong thức ăn. Các axit amin trong thức ăn không chỉ khác nhau về số lượng, chủng loại mà còn khác nhau về hiệu quả sử dụng, tức là mức độ hấp thu và sử dụng axit amin có trong thức ăn của cơ thể, mức độ hấp thu thức ăn càng lớn thì hiệu quả sử dụng càng cao

    c) Cân bằng giữa các axit amin

    Tính cân bằng của axit amin là sự duy trì một quan hệ tỷ lệ nhất định giữa các axit amin thiết yếu cấu thành nên protein việc thiếu hụt bất kỳ axit amin thiết yếu nào đều có thể ảnh hưởng đến quá trình hình thành protein trong cơ thể, làm lãng phí các axit amin khác. Do đó, thức ưn chăn nuôi ngoài yêu cầu cung cấp đủ hàn lượng các axit amin thiết yếu còn cần đảm bảo 1 tỷ lệ hợp lí giữ các loại axit amin, nhằm thỏa mãn tối ưu nhu cầu dinh dưỡng của gà, đồng thời giảm lượng prrotein tiêu hao

    1.3 Vitamin

    Vitamin là những hợp chất hữu cơ có cấu tạo, giá trị dinh dưỡng và tác dụng sinh lý khác nhau, đóng vai trò không thể thiếu trong việc duy trì các hoạt động sống của cơ thể, điều hòa quá trình trao đổi chất và năng lượng tham gia vào các phản ứng oxy hóa – khử, là thành phần chính cấu tạo nên các enzym và co-enzym

    Cơ thể gà không thể tự tổng hợp được vitamin mà phải đưa từ bên ngoài vào qua thức ăn, lượng vitamin cần thiết cho gà tuy nhỏ nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến các hoạt đống sống của cơ thể. Vitamin có nhiều loại nhưng có thể phân thành 2 nhóm chính : các vitamin tan trong chất béo và các vitamin tan trong nước. Điều kiện chăn nuôi tập trung, quy mô lớn thường tồn tại nhiều nhân tố gây kích thích, vì thế việc bổ sung vitamin cho gà càng trở nên quan trọng

    beo

    1.4 Nước

    Là thành phần chính của cơ thể gà, có vai trò đặc biệt quan trọng trong trao đổi và chuyển hóa các chất cũng như các hoạt động sống khác của cơ thể. Nước có nhiệm vụ hòa tan các chất dinh dưỡng, tham gia vào quá trình tiêu hóa, hấp thu, trao đổi và bài tiết chât thải, tuần hoàn máu, điều hòa thân nhiệt. Gà cũng như 1 số động vật khác có thể sống nếu mất đi toàn bộ lượng chất béo và một nửa protein, nhưng đa số sẽ chết nếu mất đi 1/10 lượng nước trong cơ thể, do đó có thể nói nước là dưỡng chất không thể thiếu đối với gà. Lượng nước cần thiết cho gà khoảng 6% được đưa vào qua thức ăn, 19% thông qua chuyển hóa nước và 75% còn lại là lượng nước uống vào trực tiếp. Gà không uống đủ nước sẽ chậm lớn, tiêu hóa kém, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến tử vong, đặc biệt trong môi trường nhiệt độ cao. Do đó, việc cung cấp đủ nước sạch, đảm bảo vệ sinh cho gà là vô cùng quan trọng

    2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt

    Nhu cầu dinh dưỡng của gà có thể được hiểu là lượng năng lượng, protein, vitamin và khoáng chất cần thiết phục vụ cho sinh trưởng và sản xuất cũng như các hoạt động sinh lý khác của cơ thể. Rất khó để xác định chính xác nhu cầu dinh dưỡng của từng con một trong điều kiện các nhân tố thay đổi, tuy nhiên trải qua nhiều lần nghiên cứu và trải nghiệm, hiện nay người ta có thể đưa ra những số liệu tương đối về nhu cầu năng lượng, protein, vitamin và khoáng chất của từng loại gà trong một môi trường chăn nuôi nhất định

    Dựa trên nhu cầu dinh dưỡng có thể thành lập được tiêu chuẩn dinh dưỡng cho gà. Tiêu chuẩn dinh dưỡng giúp xác định được hàm lượng dinh dưỡng có trong thực ăn đã đáp ứng được đủ nhu cầu của gà hay chưa, nếu chưa thì ước lượng được thiếu hoặc thừa bao nhiêu để cân đối, tránh tình trạng lượng dưỡng chất cung cấp sai lệch quá lớn so với nhu cầu nhu cầu thực tế của gà hoặc tỷ lệ không hợp lý dẫn đến năng suất giảm sút, hiệu quả chăn nuôi không cao. Tiêu chuẩn dinh dưỡng ở từng loại gà, giống gà, từng độ tuổi khác nhau. Ngoài ra, do tiêu chuẩn dinh dưỡng được xây dựng dựa trên một diều kiện chăn nuôi xác định trong khi thực tế các kiều kiện này chăn nuôi xác định trong khi trên thực tế các điều kiện này luôn có thể thay đổi, bởi vậy, cần điều chỉnh tiêu chuẩn dinh dưỡng căn cứ vào tình hình sản xuất thực tế ở từng địa phương.

    II. Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thường dùng

    1 Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thường dùng cho gà thịt 

    1.1 Thức ăn giàu năng lượng

    a) Ngô

    Ngô có hàm lượng năng lượng cao, ít xơ, chứa nhiều axit linoleic hàm lượng chất béo chiếm khoảng 3,5-4,5% protein 8,6% tuy nhiên lượng lysine và tryptophan tương đối thấp. Ngô giàu tinh bột, ngon miệng, giá thành hợp lý, là thực phẩm cung cấp năng lượng chủ yếu, chiếm khoảng 50-70% lượng thức ăn chăn nuôi. Ngô có 2 loại : ngô vàng và ngô trắng, ngô vàng chứa nhiều cartein giúp da gà có màu hấp dẫn hơn. Hiện nay có nhiều giống ngô được gây phục vụ cho mục đích chăn nuôi như ngô giàu protein, ngô giàu lysine, ngô giàu phytase với giá trị dinh dưỡng cao, cho hiệu quả chăn nuôi tốt hơn so với các giống truyền thống

    b) Lúa mì

    Năng lượng trao đổi chứa lúa mì là 12,79MJ/kg. Hàm lượng protein tương đối cao ( chiếm 12,1%). Lúa mì giàu vitamin nhóm B và cung cấp lượng axit amin đầy đủ hơn so với các loại ngũ cốc khác. Tuy nhiên, không nên sử dụng lúa mì làm thức ăn trực tiếp do hàm lượng đường đa không tinh bột( non Starch polysacharide- NSP) tương đối cao, cho an nhiều quá sẽ gây khó tiêu, ảnh hưởng đến sinh tưởng của gà. Lượng lúa mì trộn thêm vào thức ăn của gà sau khi đã bổ sung glucanase và sylasane với mức 30% là hợp lý.

    c)  Đại mạch và yến mạch

    Năng lượng trong 2 loại ngũ cốc này thấp hơn so với ngô và lúa mì, tuy nhiên, làm lượng protein nhóm B khá phong phú. Do có vỏ cứng và hàm lượng chất thô xơ tương đối cao nên trong khẩu phần ăn của gà nên phối trộn 2 loại hạt này.

    d) Cám mì

    Bao gồm lúa mì và cám đại mạch, lượng năng lượng chứa trong cám mì khá thấp, tuy nhiên hàm lượng protein trong máy lại khá cao(11-17%). Cám mì giàu vitamin nhóm B, tỷ lệ các thành phần tương đối cân bằng, ngon miệng, là thức ăn chăn nuôi thường dùng cho gà. Tuy nhiên, không nên dùng quá nhiều do hàm lượng xơ thô cao, dễ gây tiêu chảy.

    nguyen-lieu-2

    e) Thức ăn chứa dầu mỡ

    Thức ăn chứa dầu mỡ bao gồm các loại dầu như dầu đậu nành, dầu bắp, dầu hạt cải, dầu cọ,… và các nguyên liệu chế biến thức ăn có hàm lượng chất béo cao như đaạu nành ép đùn, lecithin tinh chiết từ đậu nành…loại thức ăn này có chứa dầu mỡ cao, có thể cung cấp lượng năng lượng gấp 2,25 lần so với carbonhydrate và protein. Bổ sung một số lượng nhỏ thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ vào thức ăn chăn nuôi bình thường không chỉ nâng cao khả năng dẫn truyền các vitamintan trong chất béo mà còn có thể làm tăng nồng độ năng lượng cung cấp . Tỷ lệ dầu mỡ thêm vào thức ăndao động trong khoảng 3-5% có tác dugnj giúp gà tăng trọng nhanh đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho gà giống vào mùa hè, tránh tình trạng thân nhiệt tăng làm ảnh hưởng tiêu hóa. Ngoài ra, có thể thêm lecithin chueets xuất từ đậu nành làm khẩu phần ăn hằng ngày của gà.

    Lecithin tinh chiết từ đậu nành ngoài tác dụng làm tăng các chất sinh năng lượng còn có thể bảo vệ gan, đảm bảo chắc năng giải độc của gan, nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể và tính hoàn chỉnh của niêm mạc đường hô hấp, tăng sức đề kháng, đảm bảo chức năng sinh sản của gà. Tuy nhiên, cần chú ý khi bổ sung chất béo cũng phải tăng, đồng thời cũng phải tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng khác.

    1.2 Thức ăn giàu protein

    Là những loại thức ăn có hàm lượng protein thô trong thức ăn trên 20% hàm lượng  dưới 18% tính theo khối lượng vật chất khô. Thức ăn giàu protein chiếm 10%- 30% khẩu phần ăn hằng ngày, bao gồm thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật và thức ăn giàu proterin có nguồn gốc thực vật.

    a) Khô dầu, bã đậu nành

    Do phương pháp ép dầu khác nhau mà sản phẩm phụ sau quá trình ép dầu từ đậu nành được chia thành khô đậu và bã đậu. Với các đặc điểm như: hàm lượng protein chiếm từ 40-45%, giàu lysine. ngon miệng, khô đậu và bã đậu đã qua chế biến là thực phẩm  cun g cấp protein có nguồn gốc thực vật tốt nhất cho gà. Lượng khô đậu( bã đậu) dùng trong khẩu phần ăn của gà thường chiếm tỷ lệ từ 15-25%. Do hàm lượng methionine tương đối thấp, laoij nguyên liệu này mang lại hiệu quả chăn nuôi cao hơn so với các loại khô dầu và bã khác. Hiệu suất sử dụng axit amin và protein dễ bị ảnh hưởng bởi các nhân tố nhiết độ, và kỹ thuật trong quá trình gia công, chế biến. Do đó, nhiệt độ không đủ cao hoặc quá cao đều có thể làm giảm hiệu quả hấp thụ và sử dụng protein. Ngoài ra, nếu nhiệt độ sử dụng trong quá trình ép dầu không phù hợp. một số chất phản dinh dưỡng chứa trong đậu nành tươi (antri-tripsin, saponin, ureae,…) tồn đọng lại ở khô(bã) đậu cũng có thể gây ảnh hưởng đến hiệu suât protein.

    b) Khô dầu, bã lạc( đậu phông)

    Tỷ lệ protein thô trong khô dầu lạc vào khoảng 42-48%, cao hơn so với khô đậu nành, giàu arginine và histidine, hàm lượng lysine thấp, ngon miệng hơn và cho hiệu quả tốt hơn so với khô đậu nành. Khô lạc có lượng năng lượng trao đổi là 52,47MJ/kg: ít canxi, giàu photpho, tuy nhiên, các axit amin không cân bằng, hàm lượng chất béo cao. Tích trữ khô lạc trong thời gian dài sẽ tạo điều kiện phát triển cho nấm aspergillus flavus dãn đến nhiễm đọc afaatoxin( AFT), gây hại nghiêm trọng cho cơ thể gà. Lượng khô lạc sử dụng trong khẩu phần ăn hằng ngày thường không vượt quá 10%.

    nguyen-lieu-1

     

    c) Khô dầu hạt bông

    Sản phẩm phụ của quá trình ép dầu hạt bông nguyên vỏ được gọi là khô dầu hạt bông, hàm lượng protein thô chứa trong 2 loại thức ăn này có tỷ lệ lần lượt là 17-29% và 38-40%. Trong hạt bông có 2 chất là gossypol và acid béo cyclopropene là những chất có hại cho cơ thể vật nuôi. Vì vậy, trước khi cho ăn cần chú ý tiến hành khử độc, lượng khô hạt bông được thêm vào thức ăn không quá 3-5%.

    d) Khô dầu hạt cải

    Tỷ lệ protein thô chứa trong khô dầu hạt cải là 35-40%, lượng lysine thấp hơn 50% và lượng axit amin chứa lưu huỳnh cao hơn 14% so với bã đậu nành, hàm lượng xơ thô chiếm 12%, hiệu suất tiêu hóa các chất hữu cơ là 70%. Do đó, khô dầu hạt cải có thể thay thế 1 phần khô đậu nành để làm thức ăn chăn nuôi cho gà. Tuy nhiên, do trong khô dầu hạt cải có chứa độc tố myrosinase nên cần tiến hành khử độc trước khi cho gà ăn. Trong quá trình chăn nuôi cần hạn chế tối đa việc sử dụng khô dầu hạt cải chưa qua xử lý độc, khi được phép dùng không quá 5%.

    e) Khô dầu vừng

    Khô dầu vừng là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất dầu vừng, có hàm lượng protein thô chiếm khoảng 40% giàu methionine, thường được kết hợp với khô đậu nành làm thức ăn chăn nuôi cho gà, có tác dụng làm tăng hiệu suất protein, thường chiếm từ 5-10% lượng thức ăn. Khô dầu vừng chứa nhiều chất béo , không bảo quản được lâu nên khi mua về phải nghiền nát và cho gà ăn ngay.

    f) Khô dầu hướng dương

    Khô dầu hướng dương có 2 loại, khô dầu đã qua bóc vỏ và khô dầu chưa qua bỏ vỏ. Khô dầu đã qua bỏ vỏ chất lượng cao có hàm lượng protein thô trên 40% hàm lượng chất béo thô dưới 5%và xơ thô dưới 10%, giàu vitamin nhóm B, có thể thay thế 1 phần cho khô đậu nành để làm thức ăn chăn nuôi cho gà. Lượng khô dầu hướng dương sử dụng trong chế biến thức ăn chiếm khoảng 10-20%. Khô dầu hướng dương chưa qua bỏ vỏ không thích hợp làm thức ăn cho gà.

    g) Bột cá

    Bột cá là thực phẩm cung cấp protein tốt nhất cho gà thịt, có hàm lượng protein dao động từ 45-60%, hàm lượng axit amin cao, kết cấu dinh dưỡng hợp lý. Bột cá giàu vitamin A và các vitamin nhóm B, đặc biệt là vitamin nhóm B12, chứa nhiều sắt, canxi, photpho và một số chất khác có tác dụng kích thích sinh trưởng ở gà. Sử dụng bột cá để bổ sung các axit amin giới hạn bị thiếu hụt trong thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc thực vật thực vật cũng mang lại hiệu quả cao tương đối khả quan. Tuy nhiên, bột cá chứa nhiều chất béo nên rất dễ ôi thiu, ngoài ra, hàm lượng histamin cao trong bốt cá có thể gây chứng xói mòn mề( hay còn gọi là chứng nôn đen) ở gà. Bột cá có giá thành cao, hiện thượng pha trộn làm giả, làm nhái tương đối nhiều, vì vậy, khi mua cần chú ý phân biệt, kiểm tra chất lượng và tiền hành phân chát kỹ lưỡng. Lượng bột cá sử dụng trong khẩu phần ăn ở mức 5-15% là hợp lý.

    nguyen-lieu-3

    h) Bột máu và bột thịt xương

    Là phụ phẩm từ các nhà máy giết mổ, chế biến gia cầm, và phần thịt bỏ đi của vật nuôi bị bệnh được xử lý nhiệt độ cao. Bột thịt xương và bột máu là nguồn cung cấ protein hấp dẫn cho gà, chứa hàm lượng protein thô lên đến 80% hàm lượng axit amin dao động từ 6-7%, tuy nhiên tương đối nghèo methionine và isoleucine. Bột máu kém ngon miệng, sử dụng quá nhiều dễ dẫn đến tiêu chảy, do đó chỉ chiếm tỷ lệ từ 1-3% trong khẩu phần ăn. Bột thtij xương chứa hàm lượng protein thô trên 40% hiệu suất tiêu hóa protein lên đến 80% chứa nhiều lysine, tuy nhiên hàm lượng methionine và tryptophan khá thấp, giàu canxi, photpho và tỷ lệ giữa canxi, photpho tương đối hợp lý. Bột thịt xương chứa nhiều chất béo, dễ biến chất, không bảo quản được lâu do đó chỉ chiếm khoảng 5% trong khẩu phần ăn của gà.

    i) Bột nhộng tằm

    Bột nhộng tằm có hàm lượng protein thô vào khoảng 68% chất lượng protein tốt, chứa nhiều axit amin giới hạn là một trong những nguồn cung cấp protein lý tưởng cho gà. Tuy nhiên, bột nhộng tằm chứa nhiều chất béo, do đó cũng không thể bảo quản, lưu trữ được lâu

    k) Bột lông vũ

    Bột lông vũ thủy phân chứa hàm lượng protein thô đập gần 80% nhưng lại nghèo methionine, lysine, tryptophan và histidine, do đó khi sử dụng cần chú ý đến vấn đề cân bằng các aixt amin và nên sử dụng kèm với các loại thức ăn khác có nguồn gốc động vật. Bổ sung bột lông vũ vào thức ăn chăn nuôi cho gà có tác dụng phòng ngừa và giảm thiểu hiện tượng gà cắn mổ lẫn nhau. Lượng bột lông vũ sử dụng trong khẩu phần ăn thường dao động từ 1-3%.

    1.3 Thức ăn giàu chất khoáng

    Thức ăn giàu chất khoáng là loại thực phẩm sử dụng vào mục đích bổ sung lượng nguyên tố khoáng thiếu hụt trong các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật. Hầu hết các loại thực phẩm đều chứa một lượng khoáng chất nhất định, trong điều kiện nuôi thả, sản lượng thấp, hiện tượng thiếu khoáng không  rõ rệt, tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhốt, với yêu cầu năng suất và sản lượng cao thì nhu cầu về khoáng chất của gà cao hơn, do đó việc bổ sung thêm khoáng chất vào thức ăn chăn nuôi cho gà là rất cần thiết.

    a) Thực phẩm bổ sung canxi và photpho

    -Bột xương hoặc dicanxi photphat( CaHPO4) chứa hàm lượng và canxi, photpho cao và tỷ lệ giũa hai nguyên tố tương đối phù hợp. Lượng bột xương và dicanxi photphat bổ sung vào thức ăn cho gà trong trường hợp thức ăn cung cấp thiếu photpho thường dao động trong khoảng 1,5-2,5%.

    -Bột đá, bột vỏ sò, bột vỏ trứng: là 3 loại thực phẩm bổ sung canxi. Lượng dùng trong thức ăn cho gà thịt thường vào khoảng 1-2%, gà  giống là 6-7%. Bột vỏ sò và bột đá giàu canxi, tuy nhiên, bột vỏ sò dễ hấp thụ hơn bột đá. Bột vỏ trứng cũng tương đối dễ hấp thụ nhưng có nguy cơ làm lây lan dịch bệnh cao.

    b) Muối ăn

    Muối ăn chủ yếu dùng để bổ sung natri và clo, đảm bảo quá trình trao đổi chất của cơ thể gà, ngoài ra, còn có tác dụng kích thích thèm ăn. Lượng muối sử dụng trong khẩu phần ăn của gà thường chiếm 0,25-0,3%.

    c) Cát sỏi

    Cát sỏi giúp gà nghiền thức ăn trong mề, đóng vai trò giống như răng. Nghiên cứu cho thấy, gà không ăn cát sỏi khả năng tiêu hóa thức ăn sẽ giảm xuống 20-30%, do đó cần bổ sung cho gà các loại cát sỏi không tan trong axit clohidric(HCl), đặc biệt đối với gà nuôi nhốt.

    1.4 Thức ăn giàu vitamin

    Là loại thức ăn trong khẩu phần ăn của gà  có tác dụng chính là cung cấp lượng vitamin cần thiết cho cơ thể gà bao gồm các loại rau củ quả, thức ăn xanh chứa nhiều nước, bột cò,… trong đó có cải trắng, cà rốt, rau dại và bột cỏ khô( bột cỏ linh lăng, bột lá hòe, bột lá thông) ;à những loại thường dùng nhất. Trong điều kiện chăn nuôi quy mô lớn, việc sử dụng các loại thực phẩm cung cấp vitamin này không được thuận tiện, do đó người ta thường sử dụng chế phẩm bổ sung vitamin để thay thế.

    tep

    1.5 Phụ gia thức ăn chăn nuôi

    a) Chế phẩm bổ sung vitamin và các nguyên tố vi lượng.

    Thường được bổ sung vào các thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gà nuôi nhốt trong điều kiện tập trung, chuyên môn hóa cao. Có thể chia loại phụ gia này thành nhiều nhóm nhỏ, nhóm chuyên dụng cho gà thịt, nhóm chuyên dụng cho gà trứng, nhóm chuyên dụng cho gà giống,… Khi sử dụng chế phẩm bổ sung vitamin và các nguyên tố vi lượng cần chú ý định lượng dựa theo hướng dẫn sử dụng. Ngoài ra, gà gặp các điều kiện, hoàn cảnh bất lợi( sau khi vận chuyển, tách nhập đàn, tiêm phòng dịch, cắt mỏ,…) cần được bổ sung một lượng nhiều hơn so với bình thường.

    b) Chế phẩm bổ sung axit amin

    Hiện nay, 2 loại axit amin được sản xuát công nghiệp với số lượng lớn nhiều nhất là lysine và methionine. Đây là loại phụ gia có tác dụng làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn chứa hàm lượng bã tạp cao. Trộn chế phẩm methionine vào thức ăn có nguồn cung protein chính là khô đậu nành có thể tiết kiệm được một lượng đáng kể thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc động vật. Ngoài ra, trong trường hợp khô đậu nành không đủ, bổ sung chế phẩm lysine và methionine cũng có tác dụng nâng cao giá trị dinh dưỡng của protein chứa trong thức ăn.

    c) Chế phẩm bổ sung kháng sinh

    Thường được sử dụng với một chất lượng nhất định nhằm mục đích ngăn ngừa các vi khuẩn gây bệnh cho gà hoặc trong trường hợp gà gặp phải những hoàn cảnh bất lợi, điều kiện vệ sinh kém. Các loại kháng sinh thường dùng bao gồm penicilin, streptomycin, chlotrtetracycline, ooxxittetracyline,…

    dan-ga-9

    d) Chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đông y

    Các chất kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi gà có thể mang đến hiệu quả nhất điịnh nhưng lại làm nảy sinh vấn đề tồn dư trong sản phẩm, do đó, nhiều loại kháng sinh đã cấm hoặc bị hạn chế sử dụng trong thức ăn chăn nuôi. Khắc phục được những nược điểm trên, các chế phẩm có nguồn gốc đông y hiện đang dần được đưa vào sử dụng do tác dụng phụ và dư lượng trong sản phẩm ít, chứa nhiều thành phần dinh dưỡng và các hoạt chất sinh học , có đồng thời cả hai tác dụng hỗ trợ dinh dưỡng và ngăn ngừa dịch bệnh. Với các đặc tính vượt trội như nguồn gốc tự nhiên, nhiều công dụng ( đóng vai trò là hooc môn, vitamin, chất đống kích thích, kháng khuẩn) giá trị dinh dưỡng cao, giúp tăng cường khả năng miễn dịch, loại phụ gia này có tiềm năng được đưa vào sử dụng rộng rãi trong tương lai.

    e) Chế phẩm bổ sung enzym

    Enzym là loại protein có công dụng đặc biệt do cơ thể động, thực vật từ tổng hợp. Enzym xúc tác quá trình tiêu hóa protein, chất béo và cacbonhydrate đồng thời tham gia các phản ứng sinh hóa phục vụ trao đổi chất của cơ thể, do đó bổ sung thêm enzym vào thức ăn chăn nuôi có tác dụng nâng cao hiệu quả tiêu háo và hấp thụ chất dinh dưỡng. Các loại chế phẩm enzym sử dụng trong chăn nuôi hiện nay bao gồm chế phẩm bổ sung một enzym bao gồm amylase, lipase, protease, cellulase, phytase,… Chế phẩm enzym tổng hợp là sự pha trộn của nhiều loại enzym khác nhau, tuy nhiên vẫn có một loại là thành phần chính , hoặc là sản phẩm thu được từ qua trình lên men nhiều loại vi sinh vật. Chế phẩm tổng hợp nhiều enzym có thể phân giải nhiều chất nền( các chất phản dinh dưỡng cũng như các thành phần dinh dưỡng), nâng cao đáng kể giá trị dinh dưỡng của thức ăn. các chế phẩm bổ sung enzym hiện nay chủ yếu là các chế phẩm tổng hợp nhiều enzym. Có thể kể đến một số ví dụ sau:

    • Chế phẩm có thành phần chính là glucanase, sử dụng để phối trộn với thức ăn có thành phần chính là đại mạch và yến mạch.
    • Chế phẩm chính là sellulase và pectase có tác dụng phá vỡ thành tế bào thực vật, giải phóng các chất dinh dưỡng bên trong tế bào, phân giải các chát phản dinh dưỡng trong thức ăn, giảm độ dính của dịch tiêu hóa, từ đó, đẩy nhanh tốc đọ hấp thu dinh dưỡng của cơ thể.
    • Chế phẩm có thành phần chính là cellulase, protease, amylaase, gluco-amylase, glucanase, pectase tổng hợp công dụng của chế phẩm nêu trên và có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa mạnh hơn.
    • Ngoài ra, đối với một số loại thực vật có 70% photpho tồn tại dưới dạng phytate(hay còn gọi là inositol hesaphophaste- IP6) mà gà không thể hấp thu, có thể thủy phân bằng cách sử dụng phtase để giải phóng các photpho dễ tiêu, tăng khả năng hấp thụ photpho dễ tiêu hóa đồng thời phân giải một số phản chất dinh dưỡng, nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

    dan-ga-8

    f) Chế phẩm bổ sung vi sinh vật đường ruột

    Còn được gọi là chất trợ sinh, là các chất bổ sung dinh dưỡng chứa vi khuẩn có ích, các vi khuẩn này vốn là các vi sinh vật có lợi tự nhiên tìm thấy trong đường ruột của động vật được con người sàng lọc, nuôi cấy và săn xuất công nghiệp, quy mô lớn bằng công nghệ sinh học. Chế phẩm bổ sung lợi khuẩn bao gồm chế phẩm tổng hợp nhiều lợi khuẩn(Em, probiotic) và chees phẩm bổ sung một số loại lợi khuẩn.

    Trong chăn nuôi, trừ một số trường hợp đặc biệt, đa số đều dùng chế phẩm tổng hợp. Ngoài cách phối trộn thêm vào thức ăn thức uống, các chế phẩm này còn có thể sử dụng để lên men rơm và phân gà làm thức ăn chăn nuôi nhằm nâng cao hiệu quả tiêu hóa thức ăn thô, tận dụng tối đa phế phẩm chăn nuôi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chế phẩm bổ sung lợi khuẩn sau khi được đưa vào cơ thể sẽ xây dựng, phục hồi quần thể vi sinh vật và cân bằng lại hệ vi sinh vật trong đường ruột, đồng thời sản sinh ra một số vi khuẩn tiêu hóa, chất kháng sinh và hoạt chất sinh học, từ đó nang cao hiệu suất hấp thụ và tiêu hóa thức ăn, giảm thiểu chi phí chăn nuôi, khống chế khuẩn E.coli cũng như các hại khuẩn khác, tăng cường sức đề kháng và miễn dịch, tránh được tình trạng sử dụng quá nhiều các loại thuốc kháng khuẩn, cải thiện đáng kể môi trường chăn nuôi( làm giảm đến hơn 70% mùi hôi của amoniac và hydro sunfua(H2S) trong chuồng tại gà)

    g) Chế phẩm bổ sung axit

    Dùng đẻ làm tăng năng lượng axit trong dạ dày, kích thích háo các Enzym tiêu hóa, đẩy nahnh quá trình hấp thi các chát dinh dưỡng, làm giảm độ pH trong đường ruột, hạn chế tác động của các vi khuẩn gây hại. Chế phẩm bổ sung chủ yếu được chia làm 3 loại: chế phẩm bổ sung axit hữu cơ, chế phẩm bổ sung axit vô cơ, chế phẩm bổ sung axit tổng hợp.

    h) Oligosacharide

    Chất này có nhiều đắc tính lý hóa  vượt trội như: ít năng lượng ổn định, an toàn, không đọc… Ngoài ra, do đặc điểm cấu tạo oligosaccharide khi vào trong dường tiêu hóa không chỉ có khả năng khôi phục lại quần thể vi sinh vật có lợi mà còn có khả năng tự bảo vệ kết cấu phân tử khỏi sự tác động của các Enzym trong đường tiêu hóa của người và động vật dạ dày đơn cũng như các vi khuẩn gây bện. Sau khi trực tiếp vào đường ruột, các lợi khuẩn như lactobacillus, bififobacterium… sẽ phân giải oligosaccharide thành các đường đơn và được cơ thể hấp thụ bằng cách đường phân. oligosaccharide có tác dụng thúc đẩy quá trình sản sinh lợi khuẩn và cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, khống chế các vi khuẩn gây bệnh như E.coli, salmonella,…, do đó còn được gọi là chất trợ sinh hóa học. Điểm khác biệt giũa các chất này là oligosaccharide chủ yếu sử dụng để duy trì sự cân bằng của hệ vi sinh vật sẵn có trong đường ruột, còn chất trợ sinh thường dùng để đưa quần thể vi sinh vật ngoại vào đường ruột, xây dựng và cân bằng lại hệ vi sinh vật mới.

    dan-ga-6

    i) Sacharicterpenin

    Là hoạt chất tự nhiên có nguồn gốc từ bã trà dầu và bã hạt cải, có thành phần cấu tạo gồm 30% đường, 30% saponin ttriterpenoid và nhiều axit hữu cơ khác. Sacharicterpenin có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, kích thích tăng trọng, nâng cao hiệu suất chuyển hóa thức ăn, tăng cường sức đề kháng và miễn dịch, ngoài ra, còn đóng vai trò là chất chóng oxi hóa, chống căng thẳng, góp phần làm giảm hàm lượng các nguyên tố có hại trong sẩn phẩm chăn nuôi như thiếc, chì, thủy ngân, thạch tín… đồng thời cải thiện màu sắc và nâng cao chất lượng của sản phẩm.

    k) Allixin

    Tỏi là một trong những loại gia vị, chất kháng khuẩn và khích thích thèm ăn được sử dụng từ lâu đời. Những phụ gia thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ tỏi bao gồm bột tỏi và acillin( hoạt chất của tỏi) có tác dụng sát khuẩn, kích thích thèm ăn, thúc đẩy quá trình sinh trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng sản phẩm chăn nuôi.

    l) Chất tẩy giun

    Chủ yếu gồm các loại chất diệt cấu trùng. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều chất diệt cấu trùng như furoxone( furazolidone), zoalene(dinitolmide), robenidine, hydrochloryde, clopidol, natri humate,… Mỗi loại chất tẩy giun có một mức độ kháng thuốc khác nhau, vì vậy, nên sử dụng thay phiên nhiều loại để đạt được hiệu quả cao hơn.

    m) Chất bảo quản

    Thức ăn hỗn hợp muốn để được lâu phải pha trộn thêm chất bảo quản. Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại chất bảo quản như axit formic, axit axetic, axit propionic, axit butyric, axit lactic, axit benzoic, axit citric, axit sorbic và các muối axit tương ứng. Chất bảo quản thức ăn bao gồm các loại axit hữu cơ hoặc giấm hoặc muối axit hữu cơ. và các chất bảo quản tổng hợp. Các chất bảo quản thường dùng trong chăn nuôi là canxi propionate và natri propionate.

    n) Các loại phụ gia khác

    Ngoài các loại phụ gia kể trên, phụ gia thức ăn chăn nuôi còn bao gồm chất chống oxi hóa, chất điều vị, chất tạo màu và các loại hooc-môn,…

     

  • Kỹ Thuật Nuôi Gà Thịt Khoa Học, An Toàn Và Hiệu Quả ( Phần 1 )

    Kỹ Thuật Nuôi Gà Thịt Khoa Học, An Toàn Và Hiệu Quả ( Phần 1 )

    I. Các giống gà thịt chủ yếu

    1.Giới thiệu các giống gà hướng thịt chủ yếu

    1.1 Gà Arbor Acres

    Là giống gà thịt lông trắng lai bốn dòng được tạo ra bởi hãng gà giống Arbor Acres ( Hoa kỳ ), trong đó cá thể bố cs mào hình hạt đậu ( mồng dâu ), cá thể mẹ có mào đơn ( mồng lá ). Gà có đặc điểm ức nở : đùi to : thân hình chắc, cân đối, đuôi ngắn, vỏ trứng có màu nâu. Gà AA có sức sinh sản ổn định, tăng trọng nhanh, cho thịt nhiều, sức đề kháng và tỷ lệ sống sót cao, dễ nuôi. Hiện giống gà này đang được phát triển ở nhiều vùng, mang lại hiệu quả kinh tế cao

    dan-ga-13

    Khả năng sản xuất của gà bố mẹ : tỷ lệ nuôi sống trên toàn đàn đạt 90% gà mái 66 tuần tuổi trung bình đẻ 193 trứng, trong đó số trứng giống khoảng 185 quả, số con khỏe mạnh khoảng 159 con, tỷ lệ thụ tinh đạt 94%, tỷ lệ trứng giống nở đạt 80%, trọng lượng trứng lúc 36 tuần tuổi là 63g

    Khả năng sản xuất của gà thương phẩm : gà trống mái thương phẩm được nuôi lẫn với nhau, trọng lượng trung bình tính đến 35 ngày tuổi đạt 1,77kg, tỷ lệ nuôi sống đả 97%, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn là 1,56kg/kg tăng trọng, 42 ngày tuổi nặng 2,36kg, tỷ lệ nuôi sống đạt 96,5%, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn là 1,73%kg/kg tăng trọng, tỷ lệ thịt ức là 16,1%, 49 ngày tuổi nặng 2,94kg, tỷ lệ sống là 95,8%, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn là 1,9kg/kg tăng trọng, tỷ lệ thịt ức là 16,8%

    1.2 Gà Avian

    Là giống gà thịt lông trắng lai ba dòng được tạo ra bởi công ty trách nhiệm hữu hạn quốc tế Avian ( hoa kỳ ). Đây là giống gà thịt lông trắng điển hình, có tầm vóc, ức nở, chân ngắn, da vàng, tăng trọng nhanh, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ nuôi sống cao. Với khả năng thích nghi tốt với nhiều điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, giống gà này hiện đang được phát triển ở nhiều vùng trên cả nước

    Khả năng ản xuất gà bố mẹ : 5% gà mái nhập chuồng bắt đầu đẻ trứng, trong đó tỷ lệ gà con nuôi sống không dưới 95%, lượng đào thải trong thời kỳ đẻ trứng dao động từ 8-10%, tỷ lệ đẻ đỉnh cao là 86,9%. Gà 41 tuần tuổi có thể đẻ được 187 trứng, trong đó số trứng giống khoảng 177 quả, số con khỏe mạnh đạt khoảng 154 con, tỷ lệ trứng giống nở cao nhất có thể đạt hơn 91%

    ga-trang

    Khả năng sản xuất của gà thương phẩm : gà trống mái thương phẩm được nuôi lẫn với nhau, gà được 49 ngày tuổi có trọng lượng khoảng 2,6kg, tiêu hao 4,63%kg thức ăn, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn là 1,8kg/kg tăng trọng, tỷ lệ sống sót trên 97%

    1.3 Gà Anak

    Là giống gà lai 4 máu thuộc loại faf thịt lông vàng sinh trưởng nhanh, có xuất xứ từ Israel. Giống gà này có thể hình loén, tròn trịa, gà con tương đối năng ( khoảng 38-41g), lông tơ có màu vàng hoặc đỏ nhạt, một số con trên lưng có dọc nâu, có túm lông đen ở cánh và lưng. Gà trống lông đuôi có màu đen, da trắng, đùi to, mỏ và móng vàng. Gà có mồng đơn, đa số con đỉnh mồng có 6 gai, tích và dái tai màu đỏ, tương đối to. thích hợp với điều kiện chăn nuôi tập trung, quy mô hóa

    Khả năng sản xuất của gà bố mẹ : Từ 0-21 tuần tuổi tỷ lệ sống sót đạt 94%, từ 22-26 tuần tuổi đạt 92-95%, 66 tuần tuổi bắt đầu tiến hành sàng lọc. Tỷ lệ đẻ lúc 25 tuần tuổi đạt 5%, lượng trứng giống vào khoảng 164 trứng/mái, trong đó tỷ lệ trứng giống nở đạt 85%

    dan-ga-33

    Khả năng sản xuất của gà thương phẩm: Do các đặc điểm trao đổi chất mạnh, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn nhiều, gà 6 tuần tuổi trọng lượng có thể đạt đến 2,001kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,75kg/kg tăng trọng, 7 tuần tuổi đạt trọng lượng 2,405kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,94kg/kg tăng trọng, 8 tuấn tuổi đạt trọng lượng 2,875kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 2,15kg/kg tăng trọng

    1.4 Gà Hubbard

    Là giống gà xuất xứ từ nước My, có đặc điểm sinh trưởng nhanh, sức đề kháng cao, thịt thơm ngon (thường lấy phần thân), tiêu tốn thức ăn nhiều, thời gian nuôi dưỡng ngắn, con thương phẩm dễ phân biệt trống mái qua tốc độ mọc lông, tạo điều kiện thuận lợi để phân đàn chăn nuôi

    Khả năng sản xuất của gà bố mẹ : 174 ngày tuổi bắt đầu đẻ trứng, tổng sản lượng trứng khoảng 180 quả, trong đó lượng trứng giống đạt yêu cầu là 173 quả, tỷ lệ trứng nở bình quân từ 86-88%, trung bình nở được từ 135-140 con

    Khả năng sản xuất của gà thương phẩm : gà 28 ngày tuổi đạt trọng lượng 1,25kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,68kg/kg tăng trọng, 42 ngày tuổi đạt trọng lượng 2,24kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,82kg/kg tăng trọng, 49 ngày tuổi đạt trọng lượng 2,71kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,96kg/kg tăng trọng

    dan-ga-90

    1.5 Gà Tegel

    Là giống gà thịt lai hai máu có xuất xứ từ Australia, trong đó cá thể bố là gà lông vàng, cá thể mẹ có lông màu nâu nhạt, sinh trưởng nhanh, phẩm chất thịt tốt.

    Khả năng sản xuất của gà bố mẹ : 175 ngày tuổi bắt đầu đẻ trứng, sản lượng trứng là 191 quả/ mái, trong đó lượng trứng giống khoảng 177 quả, tỷ lệ trứng nở là 89%, số con non thu được trung bình khoảng 175 con

    Khả năng sản xuất của gà thương phẩm : gà 42 ngày tuổi đạt trọng lượng 1,81kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,88kg/kg tăng trọng, 49 ngày tuổi đạt trọng lượng 2,12kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,95kg/kg tăng trọng, 56 ngày tuổi đạt trọng lượng 2,53kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 2,97kg/kg tăng trọng

    1.6 Gà Redbro

    Là giống gà thịt có thể hình tương đối lớn, lông màu đỏ. Gà con sinh trưởng nhanh, mỏ, chân và da đều có màu vàng, da căng bóng, thịt thơm ngon. Gà mới nở trọng lượng đạt từ 38-40g, lông mao màu đỏ, khi trưởng thành màu lông đồng đều, mồng đơn, đỉnh mồng có gai tương đối to, một số con mồng có 7 gai. Phần tích và dái tai màu đỏ, tương đối to dày

    Khả năng sản xuất của gà bố mẹ : Gà 20 tuần tuổi trọng lượng đạt 1,8-2,1kg, 64 tuần tuổi trọng lượng đạt từ 3-3,2kg, tổng sản lượng trứng ( tính đến 64 tuần tuổi ) là 165-170 quả/mái, tính đến 66 tuần tuổi là 185 quả/mái, số gà con thu được là  137-145 con, tỷ lệ tử vong ở thời kỳ sinh trưởng dao động từ 2-4%, ở thời kỳ đẻ trứng là 0,4-0.7%, trung bình một ngày tiêu tốn lượng thức ăn là 145g

    Khả năng sản xuất của gà thương phẩm: gà sử dụng thức ăn hỗn hợp 60 ngày tuổi trọng lượng có thể đạt đến 2,2kg, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn là 1,7-2kg/kg tăng trọng , sức sống cao, tỷ lệ nuôi sống tính đến 60 ngày tuổi có thể đạt trên 97%

    dan-ga-1 (2)

    1.7 Gà Hybro

    Là giống gà thịt lai bốn máu có xuất xứ từ Hà Lan, thể hình lớn, lông trắng, mồng đơn, ức nở, mắt to, sáng, chân khỏe, sinh trưởng nhanh, phẩm chất thịt tốt, khả năng sản xuất ổn định, tỷ lệ tử vong thấp, tuy nhiên không thích hợp với điều kiện khí hậu lạnh

    Khả năng sản xuất của gà bố meh : Gà máu 20 tuần tuổi trọng lượng đạt 2,23kg, gà trống đạt 3,05kg, 65 tuần tuổi gà mái đạt 3,685kg, gà trống đạt 4,97kg. Sản lượng trứng giống là 178 quả, tỷ lệ trứng giống nở trung bình vào khoảng 83%, số con non thu được là 148 con

    Khả năng sản xuất của gà thương phẩm: Gà Hybro sinh trưởng nhanh, 28 ngày tuổi trọng lượng có thể đạt đến 1,28kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,74kg/kg tăng trọng, 49 ngày tuổi trọng lượng đạt 2,97kg, lượng thức ăn tiêu tốn là 1,85kg/kg tăng trọng

    2. Công tác chọn giống

    2.1 Nhu cầu của thị trường

    chọn giống phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở địa phương cũng như nhu cầu thực tế của thị trường sẽ màn lại lợi ích kinh tế cao

    2.2 Sức sống và khả năng chống chịu của giống

    Các giống gà thịt hiện nay đều có đặc điểm chung là sinh trưởng nhanh, tuy nhiên sức sống và khả năng chống chịu của từng giống lại khác nhau, vì vậy cần phải lựa chọn những giống có sức đề kháng cao, ít mắc bệnh

    2.3 Trình độ quản lý tại cơ sở chăn nuôi

    Trình độ quản lý và tổ chức của các cơ sở chăn nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cũng như sản lượng của đàn gà. Công tác vệ sinh, tiêu độc, sát trùng cho cơ sở chăn nuôi không đúng quy định hoặc đúng cạc sẽ khiến vi khuẩn có hại phát tán dễ dàng, gây ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trọng và tỷ lệ sống sót của đàn gà. Bên cạnh đó, việc nhập khẩu các giống không rõ nguồn gốc cũng khiến cho những giống gà kém chất lượng du nhập vào thị trường trong nước, vì vậy, khi chọn mua bất cứ giống gà nào cần chú ý đến những cơ sở chăn nuôi được cấp phép, có uy tín, quy mô quản lý lớn, trang thiết bị và kỹ thuật hiện đại. Ngoài ra cũng cần tìm hiểu về tình hình thực tế tại các cơ sở để lựa chọn được những giống gà có chất lượng và sản lượng tốt, không nhiễm bệnh, diều kiện chăn nuôi hợp vệ sinh

    ga-dan-33

    II. Đặc điểm các loại gà thịt

    1.Gà thịt sinh trưởng nhanh

    Là kết quả của ghép lai giữa giống kiêm dụng bố và mẹ, gồm có các đặc điểm sau đây :

    1.1 Lớn nhanh ở giai đoạn đầu, lượng thức ăn tiêu tốn nhiều

    Đây là đặc điểm quan trọng nhất của giống gà thịt này. Gà nhanh lớn ở thời kỳ đầu sẽ xuất chuồng sớm, giảm bớt chi phí thức ăn. Gà con mới đẻ trọng lượng khoảng 40-45g, sau 6 tuần gà thịt trống, mái được trộn lẫn và nuôi chung trong cùng 1 đàn, nặng trung bình 2,35kg một con, 7 tuần tuổi có thể đạt đến 2,5kg, lượng thức ăn tiêu tốn cho 1 kg tăng trọng trung bình khoảng 1,8-2kg

    1.2 Sức sống cao, phù hợp với chăn nuôi đàn quy mô lớn

    Ngành công nghiệp chăn nuôi gà thịt hiện nay chủ yếu sử dụng hình thức chăn nuôi theo đàn quy mô lớn với mật dộ cao, một đàn thường gồm hàng nghìn con tập- trung trong 1 trại nuô. Hình thức này tuy mang lại hiệu quả. Hình thức này tuy mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng lại gia tăng nguy cơ lan truyền dịch bệnh cũng như các nhân tố kích thích khiến dịch bệnh phát sinh. gà thịt được chăn nuôi theo phương pháp hiện đại với các đặc điểm như sức đề kháng, khả năng thích nghi và chống chịu tốt, tỷ lệ sống sót cao phù hợp với hình thức chăn nuôi theo đàn quy mô lớn

    ga-trong-chuong

    1.3 Đồng đều có tính kinh tế cao

    Gà thịt hiện nay không chỉ có sinh trưởng nhanh, tiêu hao thức ăn ít, tỷ lệ sống sót cao mà còn đồng đều về hình thể, làm giảm bớt những khó khăn trong khâu chế biến, mang lại lợi ích kinh tế cao. Tuy nhiên, đặc tính này chỉ có thể thu được thông qua lai phối. do trong quá trình gây giống và cải tạo giống, sự khác biệt về trọng lượng giữa gà trống và gà mái ngày càng lớn, vì vậy để làm tăng tính đồng đều của sản phẩm, nhiều quốc gia đã sử dụng phương pháp chăn nuôi riêng rẽ các cá thể trống mái. Ở 1 số quốc gia khác, gà mái đến 1 độ tuổi nhất định cho bán ra thị trường trước, trong khi gà trống phải tiếp tục nuôi thêm 1 thời gian nữa. Biện pháp này không chỉ làm tăng độ đồng đều về cân nặng của gà thịt khi xuất chuồng, mà còn có thể phát huy hết tiềm năng sinh trưởng của gà trống, nâng cao lợi nhuận kinh tế

    1.4 Gà thịt chất lượng cao

    Sức sinh sản cũng là 1 trong những tiêu chí lựa chọn gà hướng thịt. Gà thịt hiện nay thường bắt đầu đẻ trứng từ 24 tuần tuổi, đến 64 tuần tuổi, sản lượng trứng đạt khoảng 180 quả/mái, trong đó lượng trứng giống khoảng 160 quả, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ trứng nở đạt khoảng 95%. Trong chu kỳ sinh sản, một con gà mái chuyên thịt trung bình có thể đẻ được 155 gà con thương phẩm, gà con mới đẻ có thể được đưa ra thị trường ngay trong năm, do vậy có thể cung cấp lượng thịt dồi dào phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong thời gian ngắn

    2.Gà thịt chất lượng cao

    Là những giống gà được nuôi đến 1 độ tuổi nhất định cho thịt thơm ngon, hương vị đặc biệt. Nhắc đến loại gà này người ta thương chú trọng đến chất lượng thịt

    2.1 Đặc điểm

    Lớn nhanh: qua quá trình lựa chọn và lai phối, loại gà này đã có tốc độ lớn và khả năng chuyển hóa thức ăn nhanh hơn rất nhiều so với các giống truyền thông. Gà mái thường được xuất bán sau 60 ngày, trọng lượng lúc xuất bán đạt 1,3-2kg

    Thịt mềm, thơm ngon : có giá cả tương đối cao và sức cạnh tranh lớn trên thị trường

    dan-ga-45

    2.2 Phân loại

    •  Dòng sinh trưởng nhanh : Gà trống, mái đạt các yêu cầu : 49 ngày tuổi trọng lượng khi xuất bán từ 1,3-1,5kg, trong đó được ưa chuộng nhất gà trống choai nặng khoảng 1kg và chưa bắt đầu gáy. Ở dòng gà này, người ta thường quan tâm đến tốc độ sinh trưởng, trong khi đặc điểm tam hoàng chỉ được coi là thứ yếu
    •  Dòng sinh trưởng trung bình : Đạt các yêu cầu sau : xuất bán khi được khoảng 80-100 ngày tuổi, trọng lượng đạt 1,5-2kg, mào to, đỏ tươi, màu lông sáng, tam hoàng
    • Dòng chất lượng cao : đạt các yêu cầu sau : xuất bán khi được 90-120 ngày tuổi, trọng lượng đạt 1,1-1,5kg, mào to, đỏ tươi, màu lông sáng, chân nhỏ, màu lông và chân có sự khác biệt so với thói quan tiêu dùng trên thị trường và với giống của chính nó. Các giống gà thuộc loại này thường chưa được lai phối cait tạo, chủ yếu là các giống địa phương có phẩm chất tốt

    3. Gà thịt lai tạp

    Là loại gà lai có cá thể bố thuộc giống gà thịt sinh trưởng nhanh và cá thể mẹ thuộc giống gà hướng trứng cao sản có thể có thể trọng trung bình. Loại gà này có đặc điểm sinh trưởng nhanh hơn so với gà có thể hình lớn, tiêu hao cho thức ăn ít, giá cả gà trống rẻ bằng 1/3 gà giống hướng thịt binh thường, khả năng thích nghi, chống chiu cao, dễ nuôi, chất lượng thịt tốt. Hiện nay loại gà nay đang được các họ chăn nuôi cũng như người tiêu dùng hể sức ưa chuộng, số lượng con không ngừng gia tăng, chiếm tỷ lệ ngày càng cao trên thị trường

    III. Nhân giống gà thịt

    1.Chọn giống chuyên dụng

    1.1 Yêu cầu đối với giống gà bố

    Lớn nhanh ở giai đoạn đầu, tiêu hao thức ăn nhiều, thể hình lớn, thịt thơm ngon, thuộc loại gà chuyên dụng. Thường được chọn từ những giống gà Cornish trắng, Cornish đỏ, Plymouth vằn

    1.2 Yêu cầu đối với giống gà mẹ

    Năng suất thịt tương đối tốt,đẻ nhiều, thuộc loại gà kiệm dụng. Thường được chọn từ những giống gà Plymouth Rock trắng, Light sussex, Rhode Red…

    dan-ga-99

    2.Tận dụng ưu thế lai

    2.1 Chọn lọc và làm tăng độ thuần của giống mẹ

    Sử dụng phương pháp lai gần hoặc phối giống trong đàn khép kín để tạo ra những giống có ưu thế, sau đó tiến hành chọn lọc dựa dựa trên các giống thu được. gà chuyên thịt thì 7 tuần tuổi là tiến hành chọn lọc bước đầu dựa vào tiêu chí cân nặng, sự phát dục của ức và khung xương, 40 tuần tuổi dựa vào khả năng sinh sản và đẻ trứng để chọn lọc lần cuối

    2.2 Kiêm tra hiệu quả lai phối tiến hành phối

    Nếu chưa xác định được trong các giống thu được tổ hợp giống nào có hiệu quả lai cao, trong quá trình tiến hành phối giống cần kết hợp với công tác kiểm tra hiệu quả lai, nghĩa là tổ hợp một cách có quy luật nhiều giống với nhau, tiến hành lai và quan sát xem tổ hợp lai nào mang lại ưu thế lớn, lựa chọn tổ hợp lai ưu nhất để tiến hành nhân giống

    2.3 Lai tạo và nhân rộng giống

    Tiến hành nhân rộng các tổ hợp giống đã chọn, sau đó cho lai tạo thành con thương phẩm. Căn cứ vào số lượng giống tham gia quá trình lai mà có thể phân thành các hình thức lai khác nhau, hiện nay chủ yếu gồm các hình thức sau :

    a) Lai hai máu

    Ưu điểm : dễ tiến hành, dễ phối hợp với công tác kiếm tra, trắc định, có ưu thế rõ ràng

    Nhược điểm : không thể tận dụng ưu thể lai ở đời bố mẹ để nâng cao khả năng sinh sản, trình tự nhân giống ít, lượng cung giống có giới hạn

    b) Lai 3 máu

    Là phép lai giữa 3 giống hoặc dòng khác nhau, trong đó cá thể mẹ là con lai F2 biểu hiện ưu thế lai nhất định về khả năng sinh sản, cho lai với cá thể bố có thể tạo được ở con lai thương phẩm ưu thế lai tốt. Trình tự nhân giống và lượng cung giống được cải thiện đáng kể. Đây là 1 hình thức lai có hiệu quả tương đối cao

    c) Lai bốn máu

    Là phép lai giữa bốn giống hoặc dòng khác nhau. Phép lai này mô phỏng hình thức tự thụ phấn kép ở ngô. Theo các tài liệu thu nhập được từ phép lai này về khả năng sinh sản không vượt trội hơn so với cá thể lai hai máu hoặc ba máu, tuy nhiên xét trên góc độ kinh tế phép lai này giúp kiểm soát nguồn giống dễ dàng, bảo đảm lượng cung giống liên tục

    dan-ga-cn-cam

    3.Hệ thống tổ chức trong công tác nhân giống

    Là hệ thống trong đó các khâu của công tác gây giống và nhân giống gà lai cao sản có mỗi liên hệ hữu cơ với nhau, tạo thành một chỉnh thể có phân công rõ ràng, quản lý chặt chẽ, liên kết mật thiết

    Hệ thống tổ chức trong công tác nhân giống có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc cơ cấu cơ sỏ chăn nuôi các cấp, nhân ruộng giống tốt nhanh chóng, đảm bảo các khâu của quá trình sản xuất cũng như chất lượng giống. Việc cơ cấu cơ sở chăn nuôi gà ở mỗi nơi dựa trên hệ thống nhân giống làm giảm hiện tượng sản xuất dư thừa, đồng thời đảm bảo số lượng gà thương phẩm tối ưu thu được tại các khu và các hộ chăn nuôi chuyên nghiệp trên diện rộng. Tập trung xây dựng và đầu tư vào một số ít cơ sở giúp công tác cải thiện và gây thành giống tốt dễ dàng hơn, đảm bảo chất lượng giống lai cao sản, từ đó nâng cao sức sinh sản của đàn gà, giảm chi phí thức ăn và lượng vốn đầu tư sản xuất

    Hệ thống nhân giống chủ yếu bao gốm 2 bộ phận: gây giống và nhân giống. Bộ phận đầu tiên là gây giống có nhiệm vụ chọn lọc, định hình, tức là tiến hành lai phối nhiều giống thuần chủng đã được lựa chọn phù hợp với những như cầu nhất định của con người, thông qua quá trình kiêm tra hiệu quả lai chọn ra những tổ hợp lai có ưu thế lai rõ ràng, sức sinh sản cao, sau đó cố định các giống tham gia quy trình lai đưa vào khâu tiếp theo

     

     

  • Công thức phối trộn thức ăn cho vịt đem lại hiệu quả kinh tế cao

    Công thức phối trộn thức ăn cho vịt đem lại hiệu quả kinh tế cao

    Một chế độ ăn uống phù hợp cho vịt cần phải đáp ứng đầy đủ  những yêu cầu sau: Thức ăn giàu Protein, thức ăn giàu năng lượng, thức ăn giàu Vitamin và thức ăn có chứa nhiều hợp chất khoáng. Để có thể thiết lập được công thức phối trộn thức ăn cho vịt đem lại hiệu quả cao nhất chúng ta cần phải hiểu rõ hơn về những loại thức ăn đã liệt kê ở trên.

    dan-vit-nho

    Loại thức ăn này còn gọi là Carohydrat, nó bao gồm các loại ngũ cốc và những sản phẩm phụ của chúng, hàm lượng Protein của loại thức ăn này vào khoảng 20% và xơ thô khoảng 18%.

    Trung bình trong thức ăn có chứa từ 10-12% Protein thô, 75-80% lượng Protein của nhóm thức ăn này thường có chất lượng không cao vì thiếu Lizin, Triptophan cùng Metionin. Trong đó thì Liazin là Acid amin bị hạn chế đầu tiên, chính vì thế mà bạn hoàn toàn có thể thay thế loại thức ăn bằng một loại thức ăn cho vịt khác không làm giảm hay tăng dắng kể lượng Protein bên trong khẩu phần ăn.

    Hàm lượng chất béo có trong loại thức ăn giàu dinh dưỡng thường ở mức 2-5%, tuy nhiên cũng có không ít sản phẩm phụ gia như cám lúa lại chứa đến 23% chất béo. Dạng chất béo có trong thức ăn cơ sở thường được tạo thành từ loại Acid béo không no.

    vit-tha-dan

    Thức ăn năng lượng rất giàu Photpho nhưng lại nghèo Canxi, theo tính toán thì khoảng 2/3 khối lượng thức ăn là Carbohydrat, khả năng tiêu hóa vào khoảng 95%. Những loại thức ăn giàu năng lượng thường được dùng trong chăn nuôi vị bao gồm: Kê, cao lượng, ngô, thóc, lúa cùng một số sản phẩm phụ của chúng,…

    Thóc – Ở các nước trong khu vực Đông Nam, thóc được xem là nguồn lương thực thực phẩm chính được sử dụng phổ biến nhất trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là trong cách chăn nuôi vịt theo phương pháp truyền thống. Hầu hết người dần ở nước ta thường sử dụng thóc làm thức ăn chính và cũng gần như là duy nhất để chăn nuôi vịt, các loại thực phẩm bổ sung khác thường sẽ do vịt tự tìm kiếm trong môi trường sống tự nhiên. Tuy nhiên phương pháp chăn nuôi truyền thồng hiện nay gần như không còn phù hợp vì chúng không thể mang lại hiệu quả kinh tế mà thay vào đó là cách chăn nuôi theo hướng công nghiệp, tuy nhiên thóc vẫn được sử dụng như là một trong những nguồn thức ăn chính cho vịt.

    dan-vit-de

    Năng lượng trao đổi trung bình của thóc thường ở mức 2.630 – 2.860Kcal/kg, tương ứng với 11-12MrJ/Kg chất thô. Tỷ lệ Protein trong thóc chiếm từ 7,8-8,7%, mỡ là 1,2-3,5%, chất xơ là 10-12%. Ngoài ra trong thóc còn chứa một lượng lớn Lizin Acginin và Trytophan cao hơn so với ngô, thế nhưng hàm lượng các khoáng chất có trong thóc lại vô cùng thấp.

    Ngô – Đây là loại thức ăn rất giàu năng lượng, nó có mức trao đổi năng lượng vào khoảng 3.100-3.200Kcal, tương ứng với 13-13,5Mk/Kg vật chất khô. Trong đó hàm lượng Protein của ngô là 8-12% ( Trung bình là 9%), lượng chất xơ thô khá thấp ( 4-6%), cao hơn tỷ lệ mỡ trung bình của hầu hết các loại thức ăn giàu năng lượng. Hàm lượng mỡ cao vừa là một ưu điểm mà nó cũng lại là khuyết điểm vì khi sử dụng trong các công thức phối trộn thức ăn cho vị, chúng sẽ dễ dàng làm mất đi vị ngon, khi thức ăn nóng lên thì các loại nấm mốc sẽ phát triển nhanh chóng và vô tình làm giảm đi giá trị dinh dưỡng, đồng thời còn xuất hiện độc tố Aflotoxin. Bên cạnh đó, ngô còn rất nghèo các loại chất khoáng như Mangan ( 7,3%/kg), Canxi ( 0,45%),…

    ngo-nguyen-hat

     

    Cao lương – Cao lượng là loại thực vật có rất nhiều ở những vùng nhiệt đới, chúng thường được con người trồng để lấy hạt ( Dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm). Hạt của cây cao lương có hàm lượng Protein rất cao, cao hơn so với ngô nhưng những thành phần dinh dưỡng khác lại thấp hơn. Tuy có hàm lượng Protetin cao hơn ngô thế nhưng giá trị sinh học của Protein có trong hạt cao lượng lại thấp hơn so với thóc, gạo hay ngô. Protein thô có trong cao lương chiếm từ 11-12%, chất xơ là 3,1-3,2%, mỡ là 3,0-3,1%, dẫn xuất không đạm là 70-80%, năng lượng trao đổi vào khoảng 3.000Kcal ( Ứng với 12,61Mj/Kg chất thô).

    Kê – Giá trị dinh dưỡng của kê bằng khoảng 95% ngô trắng, tuy nhiên hạt kê lại thiếu Vitamin A, Protein chiếm khoảng 10-11%, mỡ từ 2,3-2,7%, chất xơ từ 2,2-13,1%, năng lượng trao đổi rơi vào khoảng 2,667-3.192Kcal ( Ứng với 11,2-13,4Mj/Kg chất thô). Trong chế độ ăn uống của vịt con, chúng có thể hấp thu tới 44%. Do hạt kê có kích thước nhỏ hơn so với ngô, thóc và cao lượng nên chúng chỉ thường được dùng trong công thức phối trộn thức ăn cho vịt giò hay vịt đẻ là chủ yếu ( Không cần phải nghiền hay xay nhuyễn

  • Kỹ Thuật Nuôi Gà Ta Đạt Hiệu Quả Cao

    Kỹ Thuật Nuôi Gà Ta Đạt Hiệu Quả Cao

    1. Khâu chuẩn bị điều kiện nuôi

    • Trước khi đem gà ta về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như:
    • Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
    • Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn gà.
    • Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
    • Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.
    • Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10 cm được phun sát trùng khi sử dụng.
    • Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.

    dan-ga-11

    Chuẩn bị chuồng trại

    • Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
    • Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
    • Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
    • Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ… tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.

    dan-ga-99

    Chuẩn bị máng ăn

    • Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
    • Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
    • Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.

    Chuẩn bị máng uống

    • Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.

    Chuẩn bị bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà

    • Gà rất thích tắm cát.
    • Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và điểm sinh hoạt cho gà tắm. Kích thước bể dài 2m, rộng 1m, cao 0,3m cho 40 gà.
    • Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.

    dan-ga23

    Chuần bị dàn đậu cho gà

    • Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
    • Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5m, cách nhau 0,3-0,4m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
    • Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
    • Vườn chăn thả: 1m2 /1 gà.

    2. Chọn giống gà ta thả vườn

    • Nuôi gà ta theo hướng lấy thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà gà Hồ, gà ta lai…
    • Nuôi gà ta theo hướng lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri,….

    * Chọn gà con giống:

    • Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
    • Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
    • Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.

    * Chọn gà đẻ giống:

    • Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
    • Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
    • Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
    • Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.
    • Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.

    3. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

    • Nên vận chuyển gà ta con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
    • Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.
    • Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi.
    • Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.
    • Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.
    • Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.
    • Do tập tính của gà ta thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
    • Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.

    dan-ga-90

    Chú ý: Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

    4. Thức ăn cho gà ta

    • Gà ta thả vườn là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.
    • Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
    • Đối với gà ta thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà ta nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
    • Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
    • Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.
    • Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
    • Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.
    • Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.

    5. Vệ sinh phòng bệnh

    • Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo “Ăn sạch, ở sạch, uống sạch”. Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
    • Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn.

    Những nguyên nhân gây bệnh

    Môi trường sống:

    • Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh.
    • Nước uống không sạch.
    • Không khí, nhiệt độ không thích hợp….

    Sức đề kháng của cơ thể gà

    • Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể.
    • Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).

    dan-ga-33

     

    Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh

    * Vệ sinh phòng bệnh:

    • Thức ăn tốt.
    • Nước sạch.
    • Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
    • Chuồng nuôi sạch.
    • Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
    • Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.

    * Phòng bằng Vaccine:

    • Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh:
    • Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
    • Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
    • Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
    • Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gà.

    *Phòng bằng thuốc:

    • Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol…
    • Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,…
    • Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ.

    Phòng bệnh

    • Trong giai đoạn gà đẻ, chỉ sử dụng kháng sinh khi gà bệnh. Sau 6 tháng đẻ, ngừa lại các bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, Gumboro cho đàn mái đẻ.