Blog

  • Mô Hình Chăn Nuôi Sạch

    Mô Hình Chăn Nuôi Sạch

    Chăn nuôi heo hay gia cầm đang khiến nhiều hộ gia đình, nhiều trang trại lao đao, phá sản bởi giá bán giảm sâu so với giá thành. Tuy nhiên, nhiều mô hình chăn nuôi sạch vẫn đứng vững. Có lẽ họ đã đi đúng hướng bởi đáp ứng được nhu cầu thị trường và người tiêu dùng.
    Những mô hình nuôi sạch đã làm dài thêm những địa chỉ sản xuất “sạch” trong chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay, góp phần tăng niềm tin của người tiêu dùng với sản phẩm nội trong bối cảnh “nhập nhèm” chất lượng ở mọi nơi. Không chỉ vậy, cái quan trọng nhất là mang lại cơ hội dùng thịt sạch cho người dân, phát triển chuỗi sản phẩm sạch, góp phần vực dậy uy tín của ngành chăn nuôi Việt Nam.

    ga-rung-ancam

    Mô hình nuôi heo sạch

    Nuôi heo sạch cần chuẩn bị những gì ?

    Tiếp theo trong mô hình chăn nuôi heo sạch hộ gia đình chúng ta cần nhớ đó là xây dựng chuồng trại.

    Chuồng trại phải được xây dựng cách xa khu dân cư, với mô hình khéo kín nhằm hạn chế mùi hôi gây ảnh hường đế sức khỏe của những hộ dân xung quanh và đảm bảo môi trường chăn nuôi khép kín, hạn chế được việc lây lan dịch bệnh.

    Tùy theo quy mô và số lượng heo sẽ chăn nuôi mà quyết định nên xây chuồng với diện tích bao nhiêu. Chuồng trại phải kiên cố, thoáng mát, có hệ thông thoát nước. Xây dựng ở khu vực chắn gió, tiếp xúc được với ánh sáng mặt trời vào buổi sáng nhưng không quá nhiều.

     

    Không chăn nuôi chung heo với các loại gia cầm và gia súc khác. Nhằm tránh lây lan dịch bệnh và khó quản lý.

    Khi thiết kế xây dựng, phải chú ý đến độ cao của tường vì khi heo càng lớn sẽ cao lên, có những lúc chúng rất năng động có thể nhảy ra khỏi chuồng vì vậy phải xây dựng tường cao tầm 1m hoặc hơn. Trong quá trình chăn nuôi, sẽ phải thường xuyên di chuyển để cho ăn hay di chuyển bầy heo nên hãy xây dựng đường luống, lối đi rộng rãi và dễ di chuyển để tiện cho sau này.

    dau-nam-ky-hoi-xem-trang

    Chất Lượng Heo Sạch Phụ Thuộc Vào Thức Ăn – Nguồn Thức Ăn Sạch Để Chăn Nuôi Heo

    Thức ăn chính là một trong những yếu tố giúp chất lượng thịt heo trở nên sạch hơn. trước kia, người dân thường chăn nuôi heo với thức ăn công nghiệp. Một số người vì lợi nhuận mà sử dụng các hóa chất vào thịt heo như thuốc tăng trọng, thuốc tăng nạc,… hay bơm nước vào heo để tăng trọng lượng… Điều này làm ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ tiêu thụ thịt heo trong nước rất nhiều vì người tiêu dùng đã không còn tin tưởng vào nguồn thịt trong nước nữa.

    Nếu chăn nuôi heo bằng thức ăn công nghiệp, khi giá heo bất ổn giảm nhiều sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu và có thể gây nợ. Vì vậy, với chủ đề mô hình chăn nuôi heo sạch này, bytuong.com muốn giới thiệu với các bạn cách chăn nuôi heo từ chế phẩm nông nghiệp.

    Chế phẩm nông nghiệp là gì? Chế phẩm nông nghiệp là những sản phẩm được tạo ra từ những loại hạt, rau cũ, thức ăn thừa trong nông nghiệp. Chúng ta có thể chăn nuôi heo từ việc tận dụng những thức ăn thừa trong đời sống hằng ngày, phụ phẩm từ nông nghiệp, các loại ngô – khoai – cám gạo – rau… Việc sử dụng những loại thức ăn từ chế phẩm nông nghiệp này cho heo giúp giảm thiểu được chi phí đầu tư về thức ăn từ 60% – 70% mỗi tháng. Ngoài ra, vì sử dụng những thức ăn tự nhiên này nên phân heo đi ra cũng giảm bớt mùi hôi. Việc chi phi đầu tư giảm giúp người dân bớt lo lắng hơn khi giá thịt heo bị giảm, vì họ có thể không bị lỗ quá nhiều.

    dan-heo-an-cam

    Mô hình nuôi gà sạch

    Nắm bắt được cơ hội, đón đầu xu hướng anh Đinh Văn Hải, thôn Khúc Bánh, xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa (tỉnh Bắc Giang) đã thấy nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm sạch nói chung và thịt gà sạch nói riêng, nên đã ký hợp đồng với Công ty TNHH Thức ăn chăn nuôi Golden Star (ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) sản xuất thịt gà sạch khép kín từ chăn nuôi đến giết mổ, đóng gói và vận chuyển sản phẩm.

    Anh Hải tâm sự, trước khi rẽ sang hướng nuôi gà sạch anh đã từng nuôi lợn, có những thời điểm gia đình anh nuôi tới 60 con lợn nái và khoảng 800 lợn con. Mọi chi phí đầu vào, đầu ra cho đến khâu kỹ thuật, anh đều tự lo hết nhưng mấy năm trở lại đây, khi chăn nuôi lợn ngày càng phát triển, lượng cung lớn hơn cầu, có những thời điểm sản phẩm thịt lợn phải “giải cứu” như những năm 2015 – 2016, gia đình anh thiệt hại tới 700 triệu đồng. Thấy thế, anh Hải quyết định cải tạo hệ thống chuồng trại để chuyển sang chăn nuôi gà.

    vien-cam

    Anh Hải chia sẻ ưu điểm của cách nuôi này là anh hoàn toàn có thể yên tâm về chất lượng con giống, chất lượng cám cùng với quy trình dùng vắc-xin. Mặt khác đầu ra của sản phẩm được công ty bao tiêu nên không phải lo tìm mối bán như trước kia. Nuôi gia công cho công ty, anh hoàn toàn không phải lo phần vốn để mua gà giống cũng như mua vật tư trong quá trình chăn nuôi mà vốn là cái khó khăn nhất gia đình anh đang gặp phải do chăn nuôi lợn để lại trong những năm trước.

    Từ thành công của bản thân, hiện nay, anh Hải còn giúp cho một số thành viên trong Tổ hợp tác Chăn nuôi xã Thường Thắng cùng nhau phát triển, làm giàu. Anh thường xuyên tư vấn kỹ thuật cho các thành viên khác khi họ cần đến sự chia sẻ của anh. Chính vì vậy, anh được Ban chấp hành Hội nông dân tỉnh Bắc Giang tặng bằng khen “Đã có thành tích trong thực hiện phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 – 2016” và cấp giấy chứng nhận “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp tỉnh giai đoạn 2012 – 2016”.

    dan-ga-dang-an (1)

    Mô hình nuôi vịt sạch

    Thiết kế ao nuôi thả vịt trời bán hoang dã

    • Sau nhiều năm thử nghiệm nhiều mô hình chăn nuôi, nông dân Phan Văn Miền (thôn 4, Yên Mạc, Yên Mô, Ninh Bình) đã lựa chọn vịt trời để nuôi. Anh cho biết nuôi vịt trời dễ hơn vịt nhà, bởi vịt trời có nguồn gốc hoang dã nên thích nghi tốt, ít bệnh hơn.
    • Tuy nhiên, để đàn vịt khỏe mạnh, kiểm soát tốt dịch bệnh, anh Miền thiết kế hệ thống chuồng nuôi theo lối bán hoang dã, thích hợp với điều kiện bán sơn địa tại huyện Yên Mô, Ninh Bình
    • Cụ thể, việc được bơi, tắm, tìm thức ăn trong các ao nuôi thả. Hệ thống ao gồm khoảng ba ao. Trong đó, nước được tháo ra, đưa vào hàng ngày tại ao chính qua hệ thống cống. Sau đó, nước được giữ lại xử lý ở ao lắng và nuôi cá trước khi thải ra môi trường.
    • Phía trên ao nuôi chính dăng lưới mắt cáo để tránh vịt bay đi xa. Nền chuồng tôn cao, nhiều bóng mát, bên trong rải đệm lót sinh học để vịt vào ngủ, đẻ trứng. Ngoài ra anh Miền cũng phun thuốc khử trùng định kỳ hàng tuần để hạn chế mầm bệnh.

    cho-vit-an-cam

    Sân vườn nuôi vịt bên rải sỏi, bên trồng cây

    • Là người nuôi vịt bầu lâu năm tại Tiên Lãng, Hải Phòng, nông dân Hoàng Văn Gốp thiết kế sân-vườn-chuồng nuôi vịt thành hai phần. Một phần rải sỏi, một phần nền đất trồng nhiều cây xanh, chuồng nuôi và bể nước cho vịt xuống tắm.
    • Trong đó, phần rải sỏi giúp vịt khô ráo trong những ngày trời mưa, hạn chế mầm bệnh. Phần nền đất trồng nhiều cây xanh để tạo bóng mát mùa nóng. Bể nước được thiết kế giữa sân, làm nơi vịt bơi lội và tắm hàng ngày.
    • Nước được thay rửa hàng ngày để đảm bảo sạch sẽ. Sau đó, nước có chứa chất thải của vịt được tháo ra hồ nuôi thả cá, lục bình và tận dụng để tưới cho cây trồng.

    Ao nước tuần hoàn nuôi thả vịt bầu Quỳ

    Tại Nghệ An, với lợi thế đất đai cho chăn nuôi rộng lớn, các hộ nuôi thiết kế ao nước tuần hoàn để thả vịt bơi lội. Vịt sẽ kiếm thêm thức ăn là các loại cua, cá, tôm, ốc trong ao kết hợp thêm với thóc, ngô.

    Trong mô hình, nước được bơm vào, tháo ra khỏi ao liên tục để tạo độ sạch cho nước. Nhờ đó, hệ thống tuần hoàn cũng cung cấp oxy cho nguồn thủy sản trong ao dồi dào để có đủ thức ăn cho vịt.

    dan-vit-de

    Nuôi thả vịt biển tại các vùng rừng ngập mặn ven biển

    Tận dụng ưu thế diện tích đất ven biển, chân đê, bãi bồi lớn, người dân xã Đồng Rui (Quảng Ninh) đã phát triển nghề nuôi thả vịt biển. Đàn vịt hàng ngày được thả từ 7h30 sáng ra rừng ngập mặn để tự kiếm thức ăn chủ yếu từ tự nhiên như các loại tôm, cua, ốc…

    Khoảng 19h30, vịt đi theo ánh đèn tự tìm đường về đúng chuồng, ngủ và đẻ trứng bên trong. Hiện, Đồng Rui có khoảng 40 hộ nuôi trên 17.000 con vịt biển. Giống vịt này có thể chăn thả luân phiên ở cả khu vực nước mặn và nước ngọt nên môi trường sống đa dạng, dễ chăm sóc.

    Nuôi thả vịt dưới tán rừng, ven hồ thủy điện

    Khu vực hồ thủy điện Lâm Bình (Tuyên Quang) rộng lớn, có lượng nước chảy liên tục, môi trường trong lành. Nhờ lợi thế địa lý đó, vùng đất này được tận dụng để phát triển mô hình nuôi thả vịt sạch, tạo thêm thu nhập kinh tế cho người nuôi.

    Các hộ ở gần hồ thủy điện, được nhận khoán diện tích rừng ven hồ để phát triển chăn nuôi, trong đó có chăn thả vịt dưới tán rừng. Ngoài thức ăn thêm, vịt tiêu thụ chủ yếu là các loại cá tép mò được ven hồ thủy điện và các thức ăn tự nhiên trong rừng hoặc khe suối.

    vit-an-cam

    Để kiểm soát diện tích nuôi, dịch bệnh, cán bộ thú y kiểm tra thường xuyên, người nuôi tuân thủ đúng quy định về thú y, môi trường nuôi thả. Ngoài cung cấp thịt vịt sạch, mỗi năm, các hộ nuôi vịt tại Lâm Bình bán ra trên 1.500.000 quả trứng vịt cho thị trường.

    Để vụ chăn nuôi thành công thì gồm rất nhiều yếu tố như kỹ thuật chăn nuôi, chuồng trại, môi trường, thức ăn… trong đó yếu tốt không thể thiếu là con giống. Sau đây xin giới thiệu tới bà con những địa chỉ cung cấp con giống gia cầm đang được đại đa số bà con tin dùng

  • Tác Dụng Của Vitamin Đối Với Gia Súc, Gia Cầm

    Tác Dụng Của Vitamin Đối Với Gia Súc, Gia Cầm

    Vitamin là chất có hoạt tính sinh học cao cần thiết cho các quá trình trao đổi chất của cơ thể sống. Với nồng độ thấp nhưng vitmain có vai trò quyết định sự tồn tại của tất cả quá trình sống. Vitamin tham gia và cấu trúc của các nhóm enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa trong quá trình đồng hóa, dị hóa, quyết định sự sinh trưởng, sinh sản và tính kháng bệnh của gia cầm. Một vài vitamin có thể được vi sinh vật trong ruột tổng hợp nhưng rất ít nên cần thiết phải được bổ sung theo thức ăn hoặc nước uống. Khi thiếu hoặc thừa vitamin sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng như sau:

    thuc-an-xanh-cho-vit

    1.Vitamin A:

     Vitamin A có vai trò quan trọng trong việc điều hòa trao đổi protein, lipid, glucid, cần thiết cho sự hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng, vỏ tuyến thượng thận, các tế bào biểu mô, là nguyên liệu tạo rodopxin của thị giác. Thiếu vitamin A gà con còi cọc, chậm lớn, sừng hóa và viêm niêm mạc mắt, sừng hóa thanh khí quản nên dễ bị bệnh hô hấp, bệnh cầu trùng sẽ nặng thêm và khó chữa, gà dễ mắc những bệnh nhiễm trùng, tỷ lệ chết cao (gà con chết sau 2 – 4 tuần với triệu chứng thần kinh trước khi chết, mổ khám sẽ thấy ống dẫn niệu tích đầy urat, gà đẻ giảm năng suất trứng do buồng trứng phát triển kém, niêm mạc ống dẫn trứng bị sừng hóa, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ thụ tinh thấp, tỷ lệ chết phôi cao, thường chết phôi.

    dan-vit

     Nguồn vitamin A và sắc tố vàng được cung cấp từ những thực liệu chứa nhiều caroten như bắp vàng, bột cỏ giúp cho màu lòng đỏ trứng đậm hơn, da và mỡ gà vàng. Vitamin A dễ hư hỏng khi trộn vào thức ăn nên cần có thêm chất chống oxy hóa, khi tồn trữ thức ăn lâu sẽ bị mất vitamin A. Nhu cầu vitamin A ở gia cầm phụ thuộc vào tuổi và sức sản xuất của chúng: gia cầm non đang sinh trưởng nhanh cần khoảng 12000 – 15000 IU/kg thức ăn, gà đẻ trứng cần 10000 – 12000 IU.

    2.Vitamin D:

    Vitamin D tham gia vào quá trình trao đổi chất khoáng, protein và lipid. Giúp điều hòa quá trình gắn kết Ca, P và Mg vào xương, kích thích các phản ứng oxy hóa khử. Khi thiếu vitamin D gia cầm non mắc bệnh còi xương, xương chân và xương lưỡi hái cong, dị dạng; gà đẻ bị bệnh xốp xương, xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, tỷ lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 19 – 20.

    heo-an-rau

    Nhu cầu vitamin D tùy thuộc vào giống gà, gà có sức sinh trưởng và năng suất trứng cao thì nhu cầu vitamin D cao, gà nuôi nhốt trong chuồng thiếu ánh sáng thì nhu cầu vitamin D cao, khẩu phần không cân đối Ca và P cũng khiến gà cần nhiều vitamin D. So với vitamin A, chỉ nên cung cấp vitamin D với tỷ lệ: D/A= 1/8 – 1/10, không nên cung cấp dư vitamin A và D (quá 25.000 IU/kg thức ăn vitamin A; 5.000 IU/kg thức ăn vitamin D3) vì sẽ gây vôi hóa ở thận, nếu kèm với dư protein thì tình trạng dư thừa sẽ nguy hiểm dễ gây chết. 

     3.Vitamin E:

    Vitamin E giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp chất sinh học và các acid béo chưa no, tạo điều kiện thuận lợi trao đổi Phospho, glucid và protein, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước tuyến yên, tăng cường sự hấp thu các vitamin A và D, giúp ổn định thành mạch, màng tế bào của tuyến sinh dục. Thiếu sẽ gây tình trạng gà bị ngẹo đầu, mỏ trúc xuống, mất thăng bằng, đi đứng loạng choạng, đi thụt lùi, hoại tử cơ trắng vùng cơ ức và cơ đùi (giống như tình trạng thiếu Selen); ở gia cầm sinh sản sẽ giảm tỷ lệ thụ tinh, giảm tỷ lệ đẻ, trứng đã thụ tinh có phôi phát triển kém, phôi chết nên tỷ lệ ấp nở thấp.

    Vitamin E có nhiều trong các mầm hạt, bột lá cây xanh non sấy nhanh, vitamin E rất dễ bị phá hủy trong không khí, nhạy cảm với oxy và ánh sáng.-          Nhu cầu vitamin E cho gia cầm là 20 IU/kg thức ăn, khi hàm lượng chất béo trong thức ăn tăng cao 8 – 10% thì nhu cầu vitamin E tăng đến 30 IU.

    beo

    4.Vitamin K:

    Vitamin K có tác dụng làm đông máu, được sử dụng trong thức ăn cho gà con và gà đẻ để phòng chống xuất huyết khi bị bệnh cầu trùng và bệnh Gumboro với liều 2 mg/kg thức ăn sẽ cải thiện được tỷ lệ nuôi sống.

    5.Vitamin nhóm B:

    •  Vitamin B1: Gia cầm rất nhậy cảm với việc thiếu vitamin B1, khi thiếu dẫn đến triệu chứng chân đưa về phía trước, các ngón chân run, đầu ngẩng lên trên (ngược với thiếu vitamin E đầu gập xuống), đi đứng khó khăn, tích nước trong mô nên thịt nhão, phù nề do tích nước dưới da nhiều, nhu động ruột kém nên tiêu hóa kém, gà ăn ít, tình trạng nặng có thể co giật và chết. Gia cầm thường thiếu B1 trong trường hợp sử dụng nhiều thức ăn củ như khoai mỳ, khoai lang hoặc thức ăn hạt dự trữ lâu ngày, bảo quản không tốt nên bị mốc.

     Nguồn thức ăn chứa nhiều B1 như nấm men, men rượu, sử dụng chế phẩm từ nấm men 2 – 3% hoặc cám gạo, cám mỳ 5 – 10% trong thức ăn cho gia cầm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu vitamin B1 cho gia cầm là 2mg/kg thức ăn.

    gia-hat-giong-rau-muong

    • Vitamin B2:  Thiếu vitamin B2 gà con sẽ bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, viêm quanh khóe mắt, chân bị liệt ngón co quắp, di chuyển khó khăn, mắt nhắm, ghèn dính làm mắt mở khó khăn. Gà đẻ giống sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 12 – 18, gà con mới nở bị liệt chân.

    Cần cung cấp cho gà con 3 – 4 tuần tuổi lượng vitamin B2 là 8mg/ kg thức ăn, các loại gà khác cần 5 – 6 mg/kg thức ăn.-          Vitamin B2 có nhiều trong các loại rau quả xanh non, mầm hạt, nấm men. Vitamin B2 rất dễ bị oxy hóa trong không khí và mau hư. 

    •  Vitamin B3: Thường chỉ gặp trường hợp thiếu do thức ăn bị sấy ở nhiệt độ cao làm vitamin B3 bị phân hủy. Thiếu sẽ gây hiện tượng viêm da ở góc mắt và miệng, viêm nứt các ngón chân, rụng lông, sinh trưởng chậm, giảm sức kháng bệnh, gà đẻ giảm năng suất, tỷ lệ ấp nở giảm.

     Vitamin B3 có nhiều trong các loại thức ăn hạt, nấm men, nghèo trong các loại củ quả. Nhu cầu đối với gia cầm là 20 mg/kg thức ăn hỗn hợp. 

    • Vitamin B5: Tình trạng thiếu vitamin B5 giống như thiếu vitamin B2 và B3, các lóp biểu bì của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém. Nhu cầu viatmin B5 ở gà con là 40mg/kg thức ăn, gà đẻ là 30 mg/kg thức ăn. Vitamin B5 có nhiều trong thức ăn hạt, thức ăn lên men, thức ăn xanh, thường gặp những tình trạng thiếu vitamin B5 là do trong thức ăn thiếu tryptophan làm cho cơ thể khó hấp thu vitamin B5.
    •  Vitamin B6: Thiếu sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính thèm ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu.-          Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 3,5 mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu cầu vitamin B6 cũng tăng lên.
    •   Vitamin B9: Vitamin B9 có nhiều trong các loại thức ăn xanh và được vi khuẩn đường ruột tổng hợp, chỉ thiếu khi thức ăn nấu ở nhiệt độ cao hoặc gà bị bệnh đường ruột. Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, gà con giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên lông đen, vàng có những đốm trắng. Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu vitamin B9 cho gà con là 1mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7 mg/kg thức ăn.
    •   Vitamin B12:  Khi thiếu gây hiện tượng thiếu máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh kém, gà đẻ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều, và kéo theo thiếu Cholin. Vitamin B12 có nhiều trong thức ăn động vật, vi sinh vật. Nhu cầu vitamin B12 ở gia cầm phụ thuộc vào sự cung cấp đủ Methionin, Cholin, Vitamin B9, vitamin B3, nếu thiếu những chất này thì nhu cầu B12 sẽ tăng lên. Khi các chất trên đã cung cấp đủ thì nhu cầu vitamin B12 của gia cầm là 10 – 15 µg/kg thức ăn.

    vit-va-rau-xanh

    6.Cholin:

    Là vitamin thuộc nhóm B, khi thiếu gây triệu chứng gan nhiễm mỡ, thiếu máu, rối loạn phát triển bộ xương, gà thường bị yếu chân. Nếu trong khẩu phần thức ăn có cung cấp đủ các vitamin khác như B12, B6, B9 và axit amin Methionin thì nhu cầu Cholin chỉ khoảng 600 – 1.300 mg/kg thức ăn. Cholin có nhiều trong các hạt họ đậu, nấm men.

    7.Vitamin C:

    Tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể. Vitamin C được tổng hợp trong cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống cho gia cầm với liều 100 – 500 mg/kg thức ăn. Khi thời tiết nóng, chủng ngừa, cân gà hoặc đàn gà bị bệnh truyền nhiễm thì dùng vitamin C liều cao giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu tố bất lợi.

    cho-vit-an

    8.Vitamin H: (hay còn gọi là Biotin)

    Được tổng hợp trong đường tiêu hóa, khi thiếu sẽ gây viêm da, rụng lông, rối loạn sự phát triển của bộ xương, tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu vitamin H cho gia cầm là 0,2 mg/kg thức ăn. Do đó việc bổ sung đầy đủ và hợp lý Vitamin cho vật nuôi là rất quan trọng trong chăn nuôi

    Chúc bà con thành công !